Cục lâm nghiệp

Department Of Forestry

Tiềm năng mở rộng nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng

Cập nhật ngày : 04/11/2023 10:10

Trong gần 15 năm qua, chi trả dịch vụ môi trường rừng đã trở thành một nguồn tài chính ổn định, quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng. Chi trả dịch vụ môi trường hiện nay mới chỉ dừng lại ở dịch vụ điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất thuỷ điện và nước sạch,.., do vậy tiềm năng mở rộng dịch vụ nguồn thu vẫn còn rất lớn.

Ngày 3/11/2023, Cục Lâm nghiệp tổ chức Hội thảo tham vấn kỹ thuật xây dựng, mở rộng nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng. Cục trưởng Trần Quang Bảo tham dự và phát biểu khai mạc Hội thảo.

Cục trưởng Trần Quang Bảo phát biểu khai mạc Hội thảo

Theo ông Nguyễn Chiến Cường - Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, trong giai đoạn từ 2011 – 2022, nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng toàn quốc là trên 23.000 tỷ đồng để chi trả cho 270.000 hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng, 231 Ban quản lý, 96 công ty lâm nghiệp và 358 chủ rừng khác. Nguồn tiền từ dịch vụ môi trường rừng đã góp phần quản lý bảo vệ trên 7,3 triệu ha rừng, chiếm 49,6% tổng diện tích rừng toàn quốc. Tuy vậy, theo ông Cường, tiềm năng mở rộng dịch vụ môi trường rừng vẫn còn rất lớn, điển hình là tiềm năng dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ CO2 của rừng, giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh. Những nội dung này cũng đã được và đang được hiện thực hoá thông qua Thỏa thuận chi trả vùng Bắc Trung bộ, Thoả thuận LEAF/EMERGENT,…

Theo kết quả nghiên cứu của TS. Nguyễn Sỹ Doanh tại hai tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng, thì còn nhiều loại dịch vụ môi trường rừng có tiềm năng rất lớn, nhưng chưa được triển khai. Đối với dịch vụ hấp thụ và lưu trữ các – bon, riêng đối với địa bàn dự án có trên 285 nghìn ha rừng, 90% là rừng tự nhiên, chủ yếu thuộc khu vực rừng đặc dụng, phòng hộ, do vậy rừng có trữ lượng lớn, khả năng hấp thụ và lưu giữ các – bon cao. Đối với dịch vụ cung cấp nguồn nước từ rừng để nuôi trồng thuỷ sản, thì tại Vườn Quốc gia Tà Đùng (Đắk Nông) được giao quản lý 2.600ha diện tích mặt nước hồ thuỷ điện Đồng Nai 3 (Hồ Tà Đùng) rất phù hợp để thực hiện loại hình dịch vụ này. Còn tại Lâm Đồng, với điều kiện khí hậu, thời tiết, hệ thống sông, hồ đa dạng, cũng có nhiều tiềm năng để cung cấp nguồn nước từ rừng cho nuôi cá nước lạnh,.. Tuy vậy ông Doanh cũng nhận định, đa phần khó khăn thách thức đến từ việc thiếu các quy định, hướng dẫn cụ thể,… hoặc còn nhỏ lẻ, phân tán, khó xác định đối tượng cung ứng, chi phí triển khai cao.

Rừng có khả năng cung ứng dịch vụ hấp thụ và lưu trữ các - bon rất lớn

Để triển khai xây dựng mô hình mở rộng loại hình dịch vụ lưu giữ và hấp thụ các – bon rừng tại tỉnh Lâm Đồng, Chuyên gia Nguyễn Văn Thị cũng đưa ra một số vấn đề cần lưu ý  để đáp ứng các tiêu chuẩn các – bon rừng, như quy định về chống mất rừng và chống suy thoái rừng tự nhiên, quy định về đất cho trồng rừng, quy định về loại rừng cho khoanh nuôi xúc tiến tái sinh,… ngoài ra còn có các quy định về quyền sở hữu rừng và sở hữu các – bon, hay quy định về chuyển nhượng các – bon rừng. Một số mô hình định hướng mở rộng loại hình dịch vụ lưu giữ và hấp thụ các – bon rừng tại tỉnh Lâm Đồng cũng được ông Thị đưa ra như: tăng cường năng lực cho các BQL rừng phòng hộ để nâng cao chất lượng rừng, quản lý và phục hồi lại rừng trên diện tích đất lâm nghiệp hiện đang trồng cây nông nghiệp bằng các phương thức nông lâm kết hợp nhằm tăng khả năng hấp thụ các – bon, nâng cao năng lực quản trị cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng,…

Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, tiềm năng phát triển du lịch sinh thái 

Đối với tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, TS. Nguyễn Sỹ Doanh cho biết, tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà cũng đã triển khai dịch vụ cung cấp cảnh quan cho du lịch với nguồn thu đạt từ 1,5 – 1,6 tỷ đồng/năm. Đối với Vườn quốc gia Tà Đùng, nơi có hệ sinh thái đặc trưng với hệ động thực vật phong phú, có giá trị bảo tồn và phòng hộ đầu nguồn thì tiềm năng phát triển du lịch sinh thái là rất lớn, như du lịch tự nhiên, du lịch nhân văn gắn với giá trị văn hoá đặc sắc của cộng đồng dân tộc thiểu số sống gần vườn quốc gia,… Để mở rộng nguồn thu từ du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Tà Đùng, ông Doanh gợi ý ngoài việc sử dụng bộ máy nhân sự hiện có, thì Vườn cần liên kết với các tổ chức, cá nhân hay cho thuê môi trường rừng để phát triển du lịch sinh thái./.