Nhằm thực hiện chủ trương hoàn thiện hệ thống pháp luật, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng Thông tư quy định về Danh mục, chế độ quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES).
Dự thảo Thông tư gồm 6 Chương, 39 Điều và 3 Phụ lục, dự kiến trình Bộ ban hành trước ngày 15/11/2026 và có hiệu lực vào ngày 01/01/2027
SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH THÔNG TƯ
Việc xây dựng và ban hành Thông tư là đòi hỏi khách quan và cấp thiết từ cả cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn thi hành:
Cơ sở chính trị và chủ trương của Đảng, Quốc hội:
Thể chế hóa các đường lối, chủ trương tại Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựng Nhà nước pháp quyền , Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng về ưu tiên hoàn thiện thể chế , Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Ban Chấp hành Trung ương và các Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15, 2093/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Quán quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị tại các Nghị quyết số 57-NQ/TW, 66-NQ/TW, 68-NQ/TW về đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, tháo gỡ nút thắt, đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
Đồng bộ hệ thống pháp luật sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy:
Triển khai các Luật mới được sửa đổi, bổ sung như Luật Lâm nghiệp, Luật Đa dạng sinh học, Luật Thủy sản (đều được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 146/2025/QH15).
Thực hiện Quyết định số 2250/QĐ-BNNMT ngày 12/6/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc phê duyệt Phương án sắp xếp, tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền. Việc ban hành Thông tư này sẽ tích hợp, hợp nhất các quy định quản lý chuyên ngành, khắc phục tình trạng văn bản phân tán, chồng chéo trước đây.
Yêu cầu hội nhập và thực tiễn:
Đảm bảo tuân thủ đầy đủ các Nghị quyết của Hội nghị các quốc gia thành viên CITES lần thứ 20, đáp ứng các tiêu chí khoa học quốc tế trong đánh giá khai thác không ảnh hưởng (NDF – Non-detriment findings).
Giải quyết kịp thời các vướng mắc nổi lên từ thực tiễn
Có 117 loài/nhóm loài động vật, thực vật đồng thời thuộc 2 Danh mục: Danh mục loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ và Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I. Trong khi tiêu chí xác định 2 nhóm này tương đối giống nhau (chỉ khác về tiêu chí đặc hữu), gây khó khăn cho các lực lượng chức năng trong việc áp dụng chế độ quản lý phù hợp.
Chưa có quy định chế độ quản lý đối với trường hợp loài thuộc Phụ lục CITES và loài nguy cấp, quý, hiếm khác nhau về phân nhóm (ví dụ: loài rắn hổ chúa thuộc đồng thời Nhóm IB và loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, nhưng thuộc Phụ lục II CITES, các loài hoàng liên oro không thuộc CITES nhưng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ).
Quy định về huỷ mã số trong trường hợp chủ cơ sở đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn vướng mắc trong thực tiễn do theo pháp luật về tố tụng hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự là một quá trình, vì vậy, việc quy định hủy mã số trong trường hợp “đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự” vẫn bị phản ánh chưa thực sự rõ ràng khi triển khai.
Chưa quy định rõ ràng trong việc quản lý nuôi, trồng loài thuỷ sản đồng thời là loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
NHỮNG NỘI DUNG MỚI, SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NỔI BẬT
Dự thảo Thông tư mang tính bứt phá, tích hợp đồng bộ các quy định quản lý đối với loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật, thực vật thuộc Phụ lục CITES, tập trung vào các điểm mới cốt lõi sau:
Chuẩn hóa khung định danh khoa học và phân loại loài:
Tên khoa học (Latin) được xác định là căn cứ pháp lý duy nhất để định danh loài. Lần đầu tiên đưa tiêu chí “có đủ mẫu vật đối chứng hoặc trình tự gen tham chiếu” làm điều kiện bắt buộc để đảm bảo khả năng giám định tên loài trong thi hành pháp luật.
Quy định rõ ràng nguyên tắc quản lý đối với loài lai: Loài lai giữa hai loài thuộc các Nhóm/Phụ lục khác nhau sẽ được quản lý theo chế độ của loài có mức độ bảo vệ cao hơn.
Cập nhật, điều chỉnh Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
Đưa ra khỏi Danh mục ưu tiên bảo vệ (UTBV) một số loài thực vật đã được nhân giống, phục hồi quần thể thành công hoặc phát triển sản xuất hàng hóa tốt trong thực tiễn (như Sâm vũ diệp/Tam thất hoang đã được trồng rộng rãi tại Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang ; các loài Bách tán Đài Loan, Bách vàng, Vân sam Fansipan do quần thể được bảo tồn an toàn và không ghi nhận hành vi khai thác, buôn bán trong 10 năm qua).
Việc điều chỉnh này giúp tập trung nguồn lực nhà nước vào các loài thực sự bị đe doạ tuyệt chủng , đồng thời tháo gỡ rào cản pháp lý để người dân và doanh nghiệp phát triển kinh tế từ các loài đã nhân giống thành công.
Cắt giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động hợp pháp:
Minh bạch hóa quy trình, hồ sơ và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép CITES, đăng ký mã số cơ sở nuôi, trồng, thành lập cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học. Trong đó, đã tiếp tục cắt giảm 04 thủ tục hành chính, gồm: (1) Quy trình thực hiện thả lại loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nuôi sinh sản tại cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; (2) Cấp giấy phép trao đổi, tặng cho mẫu vật loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; (3) Cấp giấy phép CITES nhập nội từ biển mẫu vật loài động vật, thực vật thuộc Phụ lục I, II CITES; (4) Cấp thay thế giấy phép CITES.
Dự thảo Thông tư cũng tiếp tục quy định giảm 09 ngày làm việc, gồm 04 ngày làm việc tại thủ tục hành chính Phê duyệt Phương án khai thác loài nguy cấp, quý, hiếm từ tự nhiên và 05 ngày làm việc tại thủ tục cấp mã số cơ sở nuôi, cơ sở trồng loài động vật, thực vật thuộc Phụ lục I CITES xuất khẩu vì mục đích thương mại.
Dự thảo Thông tư quy định cắt giảm đối tượng phải thực hiện thủ tục hành chính đảm bảo phù hợp với quy định của CITES và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, gồm:
- Xuất khẩu mẫu vật loài nguy cấp, quý, hiếm nhưng không thuộc Phụ lục CITES. Do thực tế quy định của CITES không yêu cầu cấp phép CITES đối với loài không thuộc Phụ lục CITES; hiện đã có Bảng kê lâm sản làm cơ sở truy xuất nguồn gốc.
- Nhập khẩu mẫu vật loài động vật, thực vật thuộc Phụ lục II CITES. Tham khảo việc thực thi tương tự tại các quốc gia, vùng lãnh thổ tiên tiến như Mỹ, EU, Trung Quốc cho thấy, việc cấp phép CITES nhập khẩu loài thuộc Phụ lục II CITES là không cần thiết do CITES không yêu cầu.
- Cấp mã số nuôi, trồng loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật, thực vật thuộc Phụ lục I CITES không vì mục đích xuất khẩu thương mại, loài thuộc Phụ lục II, III CITES. Việc loại bỏ quy định về cấp mã số cơ sở nuôi, trồng là thực hiện quy định về cắt giảm điều kiện kinh doanh tại Luật Đầu tư 2025.
Tăng cường cơ sở khoa học và trách nhiệm giải trình:
Quy định rõ vai trò của các Cơ quan khoa học CITES Việt Nam trong việc thực hiện Đánh giá khai thác không ảnh hưởng (NDF) – làm căn cứ kỹ thuật bắt buộc trước khi thiết lập hạn ngạch hoặc cấp phép xuất khẩu mẫu vật khai thác từ tự nhiên hay từ nuôi, trồng.
KỲ VỌNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRONG THỜI GIAN TỚI
Dự thảo Thông tư sau khi được tiếp thu hoàn thiện, ban hành và có hiệu lực (dự kiến trình Bộ trưởng ký trước 15/11/2026 và có hiệu lực từ 01/01/2027) sẽ tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch và hiện đại.
Văn bản không chỉ giúp Việt Nam thực hiện tốt nghĩa vụ thành viên CITES, nâng cao uy tín quốc gia, mà còn kiến tạo môi trường thuận lợi để tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển bền vững.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường kính mời các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, chuyên gia và Nhân dân nghiên cứu, tham gia đóng góp ý kiến cho Dự thảo Thông tư trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ hoặc Cổng thông tin điện tử của Bộ, Công thông tin điện tử Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm để cơ quan chủ trì soạn thảo (Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học) tổng hợp, hoàn thiện trình Bộ trưởng xem xét ban hành.
