Sáng 21/8/2026, tại Hà Nội, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phối hợp với Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam tổ chức Hội thảo “Định hướng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực lâm nghiệp giai đoạn 2026–2030”.
Hội thảo nhằm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN, ĐMST) giai đoạn 2021–2025, đồng thời trao đổi, xác định định hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho giai đoạn 2026–2030, gắn với bảo tồn, quản lý rừng bền vững, phát triển chuỗi giá trị và tăng trưởng xanh.
PGS.TS Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm và PGS.TS Phí Hồng Hải, Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đồng chủ trì Hội thảo.

PGS.TS Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phát biểu khai mạc Hội thảo
Nhiều kết quả tạo nền tảng cho giai đoạn mới
Giai đoạn 2021–2025, KHCN đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển lâm nghiệp. Tỷ lệ che phủ rừng được duy trì ổn định ở mức 42,03% trong hai năm 2024–2025; giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản năm 2025 đạt 18,5 tỷ USD. Năng suất rừng trồng bình quân tăng từ khoảng 15 m³/ha/năm năm 2020 lên trên 18 m³/ha/năm; diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững đến hết năm 2025 đạt khoảng 720.000 ha.

PGS.TS Nguyễn Đức Kiên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp trực thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phát biểu tại Hội thảo
Trong nghiên cứu, nhiều kết quả đã được ứng dụng vào sản xuất và quản lý. Toàn ngành đã công nhận 76 giống cây trồng lâm nghiệp mới, trên 60 quy trình kỹ thuật được xây dựng và ban hành, 52 Tiến bộ kỹ thuật mới được công nhận về nhân giống, kỹ thuật thâm canh cho năng suất chất lượng sản phẩm cao, kỹ thuật sơ chế chế biến và bảo quản lâm sản, vv…, hệ thống tiêu chuẩn quốc gia và định mức kinh tế từng bước được hoàn thiện và chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất.
Phát triển các công nghệ phục vụ chế biến, bảo quản lâm sản, giám định gỗ và quản lý tài nguyên rừng. Các công nghệ số như FRMS, iTWood, GIS, viễn thám và các phần mềm chuyên ngành từng bước được đưa vào quản lý, giám sát tài nguyên, truy xuất nguồn gốc và hỗ trợ ra quyết định trong quản lý điều hành ngành lâm nghiệp.

PGS.TS. Phạm Minh Toại – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lâm nghiệp trăn trở về những khó khăn trong đào tạo thế hệ kế cận và nguồn nhân lực chất lượng cao cho nghiên cứu khoa học lĩnh vực lâm nghiệp
Đặc biết, đối với lĩnh vực kinh tế, chính sách lâm nghiệp, đã nghiên cứu, đề xuất xây dựng cơ chế chính sách đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các – bon rừng, đề xuất được bộ chỉ số môi trường rừng, chỉ số CO2 phục vụ cho quản lý nhà nước. Bên cạnh đó là hệ thống quản lý rừng trồng gắn với chuyển đổi số thông qua việc thiết lập mã số vùng trồng rừng nguyên liệu. Hoàn thiện quy trình cấp mã số vùng trồng rừng nguyên liệu, phục vụ quản lý chỉ đạo sản xuất ngành lâm nghiệp trên cả nước.
Chuyển từ “có kết quả nghiên cứu” sang “có sản phẩm được ứng dụng”
Bên cạnh những kết quả đạt được, Hội thảo cũng nhìn nhận một số hạn chế cần khắc phục. Hoạt động nghiên cứu còn phân tán, quy mô nhỏ lẻ. Việc tiếp cận công nghệ lõi còn hạn chế, đặc biệt thiếu vắng các công nghệ tiên tiến, đột phá mang tính dẫn dắt trong nghiên cứu chọn giống và chế biến sâu. Chưa hình thành nhiều chương trình trung hạn, liên ngành, liên vùng và có tính kế thừa cao. Một số kết quả mới dừng ở quy mô nghiên cứu hoặc mô hình thử nghiệm; khả năng ứng dụng, nhân rộng và thương mại hóa chưa tương xứng với số lượng sản phẩm khoa học tạo ra.
Đáng chú ý, liên kết giữa cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp, địa phương và thị trường chưa thật sự chặt chẽ; việc xác định nhu cầu, địa chỉ tiếp nhận và nguồn lực duy trì kết quả sau chuyển giao còn hạn chế. Dữ liệu chuyên ngành ở một số lĩnh vực còn phân tán, thiếu kết nối, chia sẻ và cập nhật đồng bộ.
Từ thực tiễn này, một định hướng xuyên suốt cho giai đoạn 2026–2030 là đưa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành nhân tố quan trọng, động lực để phục vụ cho mục tiêu của Chiến lược phát triển lâm nghiệp nhằm nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và phát huy lợi thế, tiềm năng sẵn có. Tập trung nguồn lực giải quyết những vấn đề lớn, cấp thiết của ngành. Quá trình nghiên cứu được tổ chức theo chuỗi từ xác định yêu cầu, nghiên cứu, thử nghiệm, công nhận sản phẩm đến chuyển giao, nhân rộng và đánh giá hiệu quả sau chuyển giao; lấy sản phẩm cuối cùng, khả năng ứng dụng, thương mại hóa và tác động thực tiễn làm tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả nhiệm vụ.
Hướng tới nền lâm nghiệp hiện đại, xanh và đa giá trị
Trong giai đoạn mới, KHCN, ĐMST được xác định là động lực quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, phát triển công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ theo chuỗi giá trị tuần hoàn khép kín; nâng cao giá trị gia tăng, phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo tồn hệ sinh thái; tăng hấp thụ và giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao giá trị thương mại các – bon rừng và quản trị số tài nguyên rừng.

Phí Hồng Hải, Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam tổng kết Hội thảo
Các hướng ưu tiên gồm đẩy mạnh công nghệ sinh học và công nghệ gen trong chọn tạo giống, bảo tồn nguồn gen; ứng dụng viễn thám, GIS, AI, UAV, LiDAR và dữ liệu lớn trong điều tra, giám sát tài nguyên, dự báo cháy rừng, quản lý sức khỏe rừng và đánh giá các-bon; phát triển công nghệ chế biến sâu, tự động hóa, vật liệu mới và kinh tế tuần hoàn; đồng thời xây dựng hệ sinh thái lâm nghiệp số, tăng cường truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng.
Đặc biệt, kế hoạch giai đoạn 2026–2030 định hướng tăng cường các hoạt động nghiên cứu cơ bản, đặc biệt là nghiên cứu về các công nghệ lõi để tạo ra những kết quả đột phá, tỷ lệ nghiên cứu cơ bản đạt tối thiểu 20% trong tổng số các nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Bên cạnh việc thực hiện tốt cơ chế Nhà nước đặt hàng nhiệm vụ xuất phát từ yêu cầu thực tiễn thì cần huy động nguồn lực doanh nghiệp, hoàn thiện hạ tầng nghiên cứu và xây dựng hệ thống dữ liệu lâm nghiệp kết nối, chia sẻ từ Trung ương đến địa phương.
Với cách tiếp cận lấy nhu cầu thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy sản phẩm và hiệu quả ứng dụng làm thước đo, KHCN và ĐMST được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực để lâm nghiệp Việt Nam chuyển mạnh sang mô hình hiện đại, xanh, tuần hoàn, đa giá trị và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành trong thời kỳ mới.
