Đổi mới phương thức quản lý lâm sản từ hồ sơ giấy sang điện tử

Dự thảo Thông tư quy định về quản lý lâm sản; xử lý lâm sản, thủy sản là tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân đang được Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm tham mưu Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng nhằm cụ thể hóa đầy đủ các nội dung Luật Lâm nghiệp giao, phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trên cơ sở kế thừa, hệ thống hóa các quy định hiện hành. Đồng thời sửa đổi, bổ sung những nội dung phát sinh vướng mắc trong thực tiễn để đáp ứng yêu cầu quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản; quản lý và cấp mã số rừng sản xuất là rừng trồng; phân loại doanh nghiệp; tiếp nhận, bảo quản, xử lý lâm sản, động vật, thực vật hoang dã là tang vật, vật chứng hoặc do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.

Dự thảo gồm 05 chương, 32 điều và 03 Phụ lục, dự kiến được trình ban hành vào cuối năm 2026.

Vì sao cần một Thông tư mới?

Luật Lâm nghiệp giao Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định chi tiết nhiều nội dung quan trọng, từ trình tự, thủ tục khai thác các loài thực vật rừng, động vật rừng; hồ sơ lâm sản hợp pháp, trình tự, thủ tục quản lý nguồn gốc lâm sản; trình tự, thủ tục, hồ sơ truy xuất nguồn gốc và đánh dấu mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; các loài thuộc Phụ lục CITES.

Những nội dung này đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định cụ thể tại Thông tư số 26/2025/TT-BNNMT ngày 24/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về quản lý lâm sản; xử lý lâm sản, thủy sản là tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân, được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT (sau đây gọi chung là Thông tư số 26/2025/TT-BNNMT).

Thông tư số 26/2025/TT-BNNMT đã tạo ra hành lang pháp lý cơ bản cho quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản; phân loại doanh nghiệp; tiếp nhận, bảo quản, xử lý lâm sản, động vật, thực vật hoang dã là tang vật, vật chứng hoặc do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.

Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai, một số quy định của Thông tư đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; một số nội dung chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước và chưa phù hợp với thực tiễn sản xuất, kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính trong quản lý và truy xuất nguồn gốc lâm sản.

Thông tư số 26/2025/TT-BNNMT đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 20 Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT. Bên cạnh đó, dự thảo Thông tư kế thừa, tích hợp quy định về quản lý và cấp mã số rừng sản xuất là rừng trồng tại Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT và quy định nuôi động vật rừng thông thường tại Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT vào nội dung của dự thảo Thông tư, đồng thời bổ sung, hoàn thiện các quy định theo yêu cầu thực tiễn. Việc xây dựng một Thông tư mới vì vậy còn hướng tới hệ thống hóa và đồng bộ các quy định hiện hành đồng thời tinh gọn hệ thống quy định, giúp cơ quan quản lý, chủ rừng, người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận, dễ thực hiện hơn.

Những vướng mắc nổi lên từ thực tiễn

Đối với quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản: quy định về quản lý và truy xuất nguồn gốc lâm sản tại Thông tư số 26/2025/TT-BNNMT khá toàn diện và có tính hệ thống, lâm sản được quản lý theo chuỗi từ khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh đến xuất khẩu, nhập khẩu. Tuy nhiên, việc lập, quản lý, lưu trữ và trao đổi thông tin về lâm sản vẫn chủ yếu thực hiện bằng hồ sơ giấy; việc số hóa, kết nối, chia sẻ thông tin giữa các khâu trong chuỗi cung ứng và cơ quan quản lý chưa đồng bộ, hạn chế khả năng quản lý, giám sát và truy xuất nguồn gốc lâm sản đồng thời làm gia tăng chi phí tuân thủ; chưa đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý lâm nghiệp, nâng cao tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng gỗ.

Đối với khai thác lâm sản, cần quy định rõ trong trường hợp phương án khai thác đã được phê duyệt nhưng có thay đổi về vị trí, địa danh, diện tích rừng hoặc phương thức khai thác để đáp ứng thực tiễn hoạt động khai thác hiện nay.

Một số quy định về hồ sơ, biểu mẫu và cách thức thực hiện tại Thông tư số 26/2025/TT-BNNMT cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện để phù hợp hơn với thực tiễn quản lý, sản xuất, kinh doanh và yêu cầu chuyển đổi sang phương thức quản lý điện tử.

Đối với xử lý lâm sản là gỗ sau xử lý tịch thu: quy định hiện hành về thông báo chuyển giao gỗ cho cơ quan, đơn vị có nhu cầu sử dụng chưa quy định cụ thể thời hạn thông báo, gây khó khăn trong việc xác định thời gian thực hiện và xử lý tài sản là gỗ tịch thu.

Những nội dung trọng tâm của dự thảo:

  • Quy định chung: Kế thừa và hoàn thiện quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, phương pháp đo, tính khối lượng, đánh số hiệu lâm sản và Bảng kê lâm sản nhằm bảo đảm thống nhất trong áp dụng pháp luật và tổ chức thực hiện. Dự thảo Thông tư bổ sung quy định về Bảng kê lâm sản điện tử, việc lập và xác nhận Bảng kê lâm sản trên Hệ thống quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản nhằm từng bước chuyển từ phương thức quản lý chủ yếu bằng hồ sơ giấy sang quản lý bằng dữ liệu điện tử trên Hệ thống quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản. Bảng kê lâm sản điện tử được quản lý, khai thác trên Hệ thống, tạo thuận lợi cho việc tra cứu, xác thực và sử dụng thông tin trong quá trình quản lý, kiểm tra và truy xuất nguồn gốc lâm sản.
  • Quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản: Kế thừa và hoàn thiện quy định về cấp và quản lý mã số rừng sản xuất là rừng trồng; khai thác thực vật rừng; khai thác, cứu hộ và nuôi động vật rừng thông thường; hồ sơ lâm sản hợp pháp; hồ sơ lâm sản trong khai thác, nuôi, trồng, nhập khẩu, vận chuyển, mua bán, xuất khẩu; hồ sơ tại cơ sở chế biến, kinh doanh, cất giữ, nuôi, trồng động vật, thực vật; kiểm tra, truy xuất nguồn gốc lâm sản. Điểm đổi mới đáng chú ý là việc quy định từng bước chuyển từ phương thức quản lý chủ yếu bằng hồ sơ giấy sang quản lý điện tử trên Hệ thống quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản, với cơ sở dữ liệu tập trung và các sổ theo dõi điện tử, góp phần kết nối, cập nhật, lưu trữ và truy xuất dữ liệu xuyên suốt chuỗi cung ứng.
  • Phân loại doanh nghiệp: Kế thừa quy định về nguyên tắc phân loại doanh nghiệp; tiêu chí phân loại doanh nghiệp Nhóm I và Nhóm II; hồ sơ, trình tự, thủ tục phân loại; đánh giá lại, chuyển nhóm doanh nghiệp; quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp và trách nhiệm của cơ quan Kiểm lâm trong tổ chức thực hiện việc phân loại doanh nghiệp.
  • Tiếp nhận, bảo quản, xử lý lâm sản, động vật, thực vật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, Phụ lục CITES là tang vật, vật chứng hoặc do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước: Kế thừa các quy định về tiếp nhận lâm sản, động vật, thực vật do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước; bảo quản lâm sản, động vật, thực vật trong thời gian tạm giữ hoặc chờ xử lý; xử lý gỗ, thực vật ngoài gỗ; xử lý động vật; xử lý thực vật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, loài thuộc Phụ lục CITES được xác lập quyền sở hữu toàn dân; đồng thời quy định trách nhiệm của cơ quan chủ trì quản lý tài sản, cơ quan quản lý chuyên ngành và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình tiếp nhận, bảo quản và xử lý tài sản.
  • Tổ chức thực hiện và chuyển tiếp: Phân định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bảo đảm việc áp dụng pháp luật liên tục, không làm gián đoạn quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Đồng thời, dự thảo quy định lộ trình chuyển tiếp từ hồ sơ giấy sang hồ sơ điện tử, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân từng bước chuyển đổi phương thức thực hiện.

Ai sẽ chịu tác động?

Dự thảo áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư có liên quan đến các nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh. Vì vậy, tác động của Thông tư không chỉ giới hạn ở cơ quan quản lý lâm nghiệp và lực lượng Kiểm lâm, mà còn liên quan trực tiếp đến chủ rừng, chủ lâm sản, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi cung ứng lâm sản; cơ quan, tổ chức tiếp nhận, bảo quản và xử lý lâm sản, động vật, thực vật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, loài thuộc Phụ lục CITES là tang vật, vật chứng hoặc do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.

Theo định hướng xây dựng, dự thảo kế thừa tối đa các quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm; chỉ sửa đổi, bổ sung nội dung phát sinh vướng mắc hoặc không còn phù hợp đồng thời bổ sung các quy định mới để đảm bảo phù hợp với thực tiễn và chủ trương chuyển đổi số trong lĩnh vực lâm nghiệp. Mục tiêu là minh bạch, dễ áp dụng, giảm chi phí tuân thủ, gắn phân cấp và phân quyền với kiểm tra, giám sát, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý lâm nghiệp.

Kỳ vọng tạo chuyển biến trong quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản

Khi được hoàn thiện và ban hành, Thông tư được kỳ vọng tạo cơ sở pháp lý cho việc lập, xác nhận Bảng kê lâm sản; khai thác thực vật rừng; khai thác, nuôi và cứu hộ động vật rừng thông thường; quản lý và cấp mã số rừng sản xuất là rừng trồng; hồ sơ nguồn gốc lâm sản, hồ sơ lâm sản, đánh dấu mẫu vật, quản lý và truy xuất nguồn gốc lâm sản; phân loại doanh nghiệp; tiếp nhận, bảo quản và xử lý lâm sản, động vật rừng, động vật, thực vật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, Phụ lục CITES là tang vật, vật chứng trong quá trình tạm giữ hoặc do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước; khắc phục những khó khăn, vướng mắc của quy định hiện hành.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng được kỳ vọng từng bước thay đổi phương thức quản lý lâm sản từ quản lý chủ yếu bằng hồ sơ giấy và kiểm tra thủ công sang quản lý điện tử trên nền tảng cơ sở dữ liệu tập trung, bảo đảm kết nối, liên thông dữ liệu giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng và cơ quan Kiểm lâm các cấp; qua đó, tạo tiền đề xây dựng hệ thống quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản điện tử tập trung, thống nhất trên toàn quốc; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giảm chi phí tuân thủ và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế về tính hợp pháp, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong chuỗi cung ứng gỗ và sản phẩm gỗ.

Góp ý để chính sách sát thực tiễn

Bộ Nông nghiệp và Môi trường mong nhận được ý kiến của cơ quan quản lý, địa phương, chủ rừng, doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học, hộ gia đình, cộng đồng dân cư và các tổ chức, cá nhân liên quan.

Ý kiến góp ý cần tập trung vào tính rõ ràng, khả thi của quy định về lập, xác nhận Bảng kê lâm sản; khai thác thực vật rừng; khai thác, nuôi và cứu hộ động vật rừng thông thường; quản lý và cấp mã số rừng sản xuất là rừng trồng; hồ sơ nguồn gốc lâm sản, hồ sơ lâm sản, đánh dấu mẫu vật, quản lý và truy xuất nguồn gốc lâm sản; phân loại doanh nghiệp; tiếp nhận, bảo quản và xử lý lâm sản, động vật rừng, động vật, thực vật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, Phụ lục CITES là tang vật, vật chứng trong quá trình tạm giữ hoặc do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.

Việc tham gia góp ý ngay từ giai đoạn dự thảo sẽ giúp cơ quan soạn thảo nhận diện đầy đủ tác động, tiếp thu kinh nghiệm từ thực tiễn và hoàn thiện quy định theo hướng thống nhất, khả thi, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước với quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, cộng đồng và doanh nghiệp.

Phòng Điều tra, xử lý vi phạm pháp luật về Lâm nghiệp