Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 21/9/2017

Điểm báo ngày 21/9/2017

Cập nhật ngày : 21/09/2017 11:14:29 SA

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 21 tháng 9 năm 2017)

Nhiều ý kiến đóng góp cho dự thảo Luật Thủy sản (sửa đổi), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

Sáng 6/9, Đoàn ĐBQH TP Hà Nội tổ chức Hội nghị lấy ý kiến vào các dự thảo Luật Thủy sản (sửa đổi), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, dự kiến thông qua tại kỳ họp thứ Tư, Quốc hội khóa XIV. Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Ngọ Duy Hiểu chủ trì hội nghị.

Dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) gồm 12 Chương, 108 điều quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, kinh doanh, chế biến và thương mại lâm sản cơ bản là hợp lý. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị bố cục cần phải bảo đảm cân đối hơn giữa các quy định về bảo vệ với phát triển rừng; sắp xếp các chương, mục, điều, khoản bảo đảm tính logic và khoa học hơn. Sửa đổi, xem xét lại quy định rừng tự nhiên là của Nhà nước.

Tại hội nghị, GS.Tiến sĩ khoa học Đặng Hùng Võ (Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường) cho rằng, cần có quy định cụ thể về Quyền tiếp cận rừng đối với cộng đồng dân cư không phải là chủ sở hữu. Đặc biệt, cần thiết phải đưa Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp vào dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Đồng thời, GS cũng kiến nghị, “rừng tự nhiên nghèo kiệt nên giao cho hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư phục hồi, sau khi phục hồi được, cho họ quyền được hưởng giống như rừng sản xuất, rừng trồng”. Trong khi đó, đại biểu Trần Nho Quyết, PGĐ Vườn quốc gia Ba Vì cho rằng, diện tích quy hoạch cho hoạt động du lịch sinh thái trong rừng đặc dụng nên có quy định thông báo về thủ tục để tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh. Cần quy định chặt chẽ hơn về tác động cụ thể: Các TTHC trong hoạt động du lịch sinh thái. “Nên quy định cụ thể trong luật về diện tích tác động chiều cao công trình trong diện tích thuê môi trường rừng, liên kết kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái…”.

Nhiều ĐB cũng cho rằng, trong Luật cần quan tâm đến chủ thể rừng. Hiện chủ thể rừng rất khác nhau, quá trình giao đất, giao rừng của các công ty lâm nghiệp trước đây lại giao khoán cho hộ dân nhưng không loại trừ nhiều nơi việc giao khoán không rõ ràng nên hiệu quả chưa cao, đời sống của người dân được giao đất giao rừng còn khó khăn. Cần tính toán chủ thể, người được giao đất giao rừng có thể làm giàu trên mảnh đất này. Bên cạnh đó, hệ sinh thái rừng cần tiếp tục quy hoạch và phát triển theo kế hoạch nên sắp tới cần tính toán định giá trong môi trường rừng.

Đối với dự án Luật Thủy sản (sửa đổi), các đại biểu tham gia góp ý vào một số vấn đề như về sự cần thiết và phạm vi sửa đổi của luật; về chính sách của Nhà nước trong hoạt động thủy sản; về thực hiện đồng quản lý trong hoạt động thủy sản; về khu bảo tồn biển, khu bảo tồn thủy sản nội địa; về quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; về quy định đối với lực lượng Kiểm ngư; Nên bỏ quy định giấy chứng nhận; Bổ sung một số định nghĩa liên quan đến thủy sản…

Các ý kiến tại hội nghị cũng đã góp ý vào nhiều điều, khoản cụ thể của dự thảo Luật. Thay mặt Đoàn ĐB Quốc hội TP Hà Nội Ngọ Duy Hiểu đã tiếp thu toàn bộ các ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những kiến nghị này sẽ được Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội tổng hợp trình lên Ủy ban thường vụ Quốc hội để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật để trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới. (Baonamdinh.com.vn 20/9) Về đầu trang

Lãnh đạo Chính phủ chỉ đạo thanh tra toàn diện các dự án ở Sơn Trà

Phó thủ tướng giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng và các bộ, cơ quan liên quan thanh tra toàn diện việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường, xây dựng đối với các dự án đầu tư xây dựng trên bán đảo Sơn Trà.

Các dự án này đã được UBND Đà Nẵng chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp phép trong giai đoạn từ năm 2003 đến hết năm 2016 (thời điểm Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng được phê duyệt). Các đơn vị được giao báo cáo kết quả lên Thủ tướng trước ngày 31/3/2018.

Liên quan đến vấn đề này, UBND Đà Nẵng có báo cáo đã gửi Thủ tướng về việc rà soát các dự án và phương án điều chỉnh quy hoạch du lịch tại bán đảo Sơn Trà.

Theo đó, đến tháng 12/2012, tại bán đảo Sơn Trà, UBND Đà Nẵng chấp thuận chủ trương đầu tư đối với 18 dự án phát triển du lịch, nghỉ dưỡng. Tổng diện tích quy hoạch gần 1.230 ha.

Trong đó, chính quyền đã giao đất có thu tiền hơn 94 ha; đất thuê là 274 ha và phần còn lại là diện tích đất giao cho các tập thể, cá nhân quản lý không thu tiền. Tổng số tiền sử dụng đất đã thu (phần diện tích đất giao từ 2003-2012) khoảng 700 tỷ đồng.

Về cơ sở pháp lý để chấp thuận đầu tư, UBND Đà Nẵng cho rằng những dự án được địa phương cấp phép đúng pháp luật.

Hiện, 3 dự án được đầu tư, triển khai (dự án khu du lịch sinh thái biển Bãi Bắc, khu du lịch Sơn Trà Resort & Spa và khu nhà nghỉ du lịch sinh thái Bãi Trẹm); một dự án đang triển khai và tạm dừng (khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái biển Tiên Sa); 3 dự án đã triển khai một phần nhưng sau đó tạm dừng; 11 dự án chưa triển khai.

TP Đà Nẵng kiến nghị Chính phủ cho phép giữ lại dự án đã xây dựng và hoạt động có hiệu quả. Những dự án này phải đảm bảo an ninh quốc phòng, không nằm trong vùng nhạy cảm, ảnh hưởng đến công tác phòng thủ. (News.zing.vn 20/9; VnEconomy.vn 21/9; Người Lao Động Online 21/9; Đầu Tư Online 20/9; Hải Quan Online 20/9; Danviet.vn 20/9; VTCNews 20/9; Infonet.vn 20/9; Vietnamnet.vn 20/9; Toquoc.vn 20/9; Người Lao Động Online 20/9; News.zing.vn 20/9; Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh Online 20/9; Phununews.vn 20/9; Viettimes.vn 20/9; Báo Chính Phủ Điện Tử  20/9) Về đầu trang

Nhiều bất cập trong giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng ở Tây Nguyên

Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi Làm tốt việc khôi phục, bảo vệ vốn rừng Tây Nguyên hiện có Theo Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, hiện nay, việc giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trong các buôn làng là đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên vẫn còn nhiều bất cập làm cho tình trạng lấn chiếm đất rừng, phá rừng trái phép vẫn chưa giảm, chất lượng rừng tự nhiên ngày thêm suy giảm.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk, hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh sau khi triển khai giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng thôn, buôn, nhóm hộ, hộ gia đình, cá nhân quản lý, bảo vệ đều để xảy ra tình trạng mất rừng, đất rừng bị lấn chiếm trái phép; trong đó, có một số huyện để diện tích rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép lên đến cả nghìn hécta như Ea Súp, Buôn Đôn, Ea H’Leo…

Huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk) đã giao 1.000 ha rừng thuộc các tiểu khu 480, 478, 481 cho 50 hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số nghèo của 7 buôn tại 2 xã Krông Na, Ea Huar quản lý, bảo vệ. Thế nhưng, qua kiểm tra, đến nay, hầu hết diện tích rừng này đã bị người dân lấn chiếm trái phép chưa có biện pháp thu hồi.

Theo Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn, nguyên nhân là do phần lớn các hộ nhận đất, nhận rừng chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, không đủ năng lực để thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng. Trong khi đó, diện tích rừng, đất rừng giao cho đồng bào hầu hết là rừng non tái sinh mà trước đấy các đơn vị lâm nghiệp quản lý đã khai thác cạn kiệt, khi giao về địa phương phần lớn rừng không còn trữ lượng gỗ, địa hình phức tạp, đất xấu, việc hưởng lợi từ rừng trước mắt chưa có gì, đồng bào lại thiếu vốn, thiếu nhân lực để đầu tư phát triển lâm sinh…

Thậm chí, Quyết định 304/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong việc giao rừng, khoán rừng có hỗ trợ của nhà nước về giống cây lâm nghiệp, hỗ trợ gạo (hộ nghèo đang thiếu đói thì được trợ cấp 10 kg gạo/khẩu/tháng trong thời gian chưa tự túc được lương thực), hỗ trợ tiền làm nhà, khai hoang phục hóa… ra đời chỉ trong thời gian ngắn nhưng do không có nguồn lực để hỗ trợ nên các tỉnh Tây Nguyên đã tạm dừng thực hiện Quyết định này.

Theo đánh giá của Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, chính sách giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên trong thời gian qua đã góp phần giải quyết được phần nào tình trạng thiếu đất sản xuất; tăng thêm thu nhập, giải quyết được một phần khó khăn cho đồng bào trong lúc giáp hạt. Mặt khác, giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số theo chương trình thí điểm giúp cho đồng bào làm quen với kỹ thuật lâm sinh, người dân có sinh kế gắn với trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.

Tuy nhiên, việc giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập như cơ chế, chính sách, khung pháp lý về nguồn lợi thu được từ việc giao khoán chưa được quy định rõ ràng; mức giao khoán còn thấp chưa đảm bảo đời sống cho người nhận khoán, diện tích rừng giao chất lượng kém, chủ yếu là rừng nghèo…

Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đã đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương cho phép các tỉnh Tây Nguyên tổ chức thực hiện thí điểm, nhân rộng phương thức đồng quản lý rừng trên cơ sở cùng chia sẻ trách nhiệm, cùng hưởng lợi từ sự đóng góp của các bên theo quy định tại Quyết định số 07 của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 8/2/2012 nhằm thu hút sự quan tâm, tạo cơ hội cho cộng đồng, hộ gia đình sống trong, gần rừng bảo vệ và tiếp cận các lợi ích bền vững.

Bên cạnh đó, xây dựng và phê duyệt giá rừng bình quân cho từng khu vực, từng địa bàn để tháo gỡ được “nút thắt” trong công tác giao rừng, cho thuê rừng, truy cứu trách nhiệm, bồi thường giá trị thiệt hại khi xảy ra tình trạng mất rừng. Đồng thời, làm căn cứ định giá rừng lần tiếp theo để cá nhân, tổ chức, người dân được hưởng lợi từ việc làm tăng trữ lượng gỗ… Các tỉnh Tây Nguyên cần mở rộng việc thực hiện chính sách dịch vụ môi trường rừng gắn với việc khoán quản lý bảo vệ rừng đối với các nhóm hộ, hộ gia đình, cá nhân nhận rừng…

Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên đã giao rừng, đất rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân và nhóm hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở các thôn, bon, buôn, làng được trên 128.781 ha rừng; trong đó, giao cho cộng đồng chỉ có 26.679 ha, diện tích còn lại là giao cho hộ gia đình và cá nhân. Kon Tum và Đắk Lắk là hai địa phương thực hiện giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng, nhóm hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ nhiều nhất. Tỉnh Đắk Nông là địa phương giao rừng, đất rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ thấp nhất chỉ có hơn 4.900 ha; trong đó, giao cho các hộ gia đình, cá nhân chỉ có 553 ha rừng, đất rừng. (Dantocmiennui.vn 20/9) Về đầu trang

Hà Tĩnh: Không ép giá, thu mua triệt để gỗ nguyên liệu sau bão!

Bão số 10 khiến hơn 11 ngàn ha rừng Hà Tĩnh bị thiệt hại trên 70%, tập trung chủ yếu ở Kỳ Anh. Đáng nói, trên 50% diện tích này do các hộ gia đình, cá nhân tự trồng (keo, bạch đàn, phi lao, cao su). Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh về việc chia sẻ với người dân lúc khó khăn, các doanh nghiệp đã cam kết thu mua triệt để keo tràm, không ép giá.

"Bà con trồng rừng Hà Tĩnh là khách hàng chính của công ty trong thời gian qua. Để góp phần sẻ chia khó khăn với bà con, doanh nghiệp cam kết thu mua triệt để keo tràm của bà con vừa bị bão làm gãy đổ" - ông Trần Quang Luận, Giám đốc Công ty TNHH Thanh Thành Đạt khẳng định.

Ông Luận chia sẻ: Sau bão, bản thân nhà máy của chúng tôi tại Kỳ Anh cũng bị thiệt hại nặng nề. Tuy nhiên, khi bão xong, Công ty đã cử ngay đoàn kỹ thuật vào khắc phục để nhà máy nhanh chóng trở lại hoạt động. Sau khi được điện lực cấp điện trở lại, nhà máy tại Kỳ Anh đã tiến hành xay gỗ từ sáng 20/9; nhà máy Phổ Hải, nhà máy Nam Cẩm đã xay từ 2 ngày nay rồi.

“Dù hiện nay, hàng chục ngàn tấn dăm đang tồn kho nhưng công ty đã chỉ đạo các nhà máy, khi người dân đến bán là phải thu mua và băm gỗ ngay cho bà con, không kể ngày đêm. Đây là trách nhiệm của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay", Giám đốc Trần Quang Luận nói.

Ông Luận cũng cam kết, khi mua sẽ không xuống giá để người dân vớt vát sau những thiệt hại quá lớn.

Không chỉ doanh nghiệp Thanh Thành Đạt, hiện nay, Công ty Hanviha cũng cam kết không vì lượng gỗ gãy đổ lớn sau bão mà giảm giá thu mua của bà con.

Theo ông Nguyễn Hữu Thành - Phó Giám đốc Công ty, cứ có gỗ của bà con là Hanviha sẽ tổ chức thu mua và đưa vào nhà máy; giá cả sẽ theo giá chung của thị trường, không có chuyện ép giá, giảm giá.

Về nội dung này, Phó trưởng Ban quản lý KKT tỉnh Đặng Văn Thành cho biết thêm: “Sau bão, lãnh đạo Ban đã đến kiểm tra, chia sẻ, động viên các doanh nghiệp bị thiệt hại. Đối với các doanh nghiệp thu mua, chế biến gỗ nguyên liệu, đơn vị đã trao đổi, dẫu doanh nghiệp cũng bị thiệt hại nhưng cần chia sẻ khó khăn với người dân, thu mua theo quan điểm của tỉnh. Các doanh nghiệp đã bày tỏ sự đồng tình cao". (Báo Hà Tĩnh Online 21/9; ANTV.gov.vn 20/9; Vietnammoi.vn 20/9; Pháp Luật Việt Nam Online 20/9) Về đầu trang

Bình Định: Bắt hai nghi phạm phá rừng

Công an tỉnh Bình Định cho biết, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, của Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, Công an tỉnh đã tổ chức lực lượng tiến hành điều tra, truy bắt các đối tượng hủy hoại 61 ha rừng ở khoảnh 7, 8 tiểu khu 1, thuộc xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Chiều 20-9, Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt, di lý hai nghi phạm là Nguyễn Văn Ri, sinh năm 1975, trú tại xã Hoài Châu Bắc và Phan Dễ, sinh năm 1960, ở xã Hoài Sơn (cùng huyện Hoài Nhơn, Bình Định) về thành phố Quy Nhơn để tiếp tục điều tra về hành vi hủy hoại số diện tích rừng nêu trên.

Trước đó, từ đầu tháng 9-2017, lực lượng kiểm lâm phát hiện hơn 61 ha rừng bị lâm tặc triệt phá. Sự việc đã được báo cáo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Định để chỉ đạo xử lý. Theo đó, nhiều lãnh đạo, cán bộ ngành kiểm lâm đã bị kỷ luật, trong đó có người bị tạm đình chỉ công việc để điều tra. (Nhân Dân Online 21/9; Doanhnghiepvn.vn 20/9; Nhân Dân Online 20/9; Thanh Niên Online 20/9) Về đầu trang

Vụ phá rừng tại Bình Định: Yêu cầu đình chỉ công tác cán bộ kiểm lâm

Ngày 20/9, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định Hồ Quốc Dũng sau khi nghe các cơ quan, đơn vị liên quan trong vụ phá gần 61ha rừng tự nhiên tại xã An Hưng, huyện An Lão đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định tạm đình chỉ công tác đối với Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão và kiểm lâm viên địa bàn phụ trách khu vực rừng xã An Hưng.

Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm An Lão phải nhận trách nhiệm và hình thức xử lý nghiêm túc.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định nhấn mạnh trước mắt, tập trung xử lý nghiêm cán bộ liên quan ở huyện An Lão và huyện lân cận Hoài Nhơn, trách nhiệm quản lý Nhà nước của Chi cục Kiểm lâm Bình Định. Đồng thời, kiểm điểm và xử lý trách nhiệm đối với Trạm Kiểm lâm Hoài Sơn (Trạm này được thành lập theo Dự án Jica 2); Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện An Lão, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định phải tổ chức kiểm điểm nghiêm túc, báo cáo kết quả cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh.

Hạt Kiểm lâm huyện An Lão hiện có hai Phó Hạt trưởng và hai nhân viên kiểm lâm phụ trách địa bàn có khu vực rừng bị phá.

Như tin đã đưa, vụ phá rừng quy mô lớn lên tới 60,9ha vừa xảy ra tại khoảnh 7, khoảnh 8, tiểu khu 1, thuộc xã An Hưng, huyện miền núi An Lão (Bình Định). Ban đầu, các cơ quan chức năng đã “giấu” thông tin này với lý do “để mật phục chờ đối tượng lên trồng rừng sẽ bắt.”

Về trách nhiệm của các cá nhân liên quan, ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định cho biết: “Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão Đoàn Văn Tá đi học lớp kiểm lâm viên chính tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 7-17/8. Mặc dù có thông tin từ Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Nhơn báo lên nhưng lại nghe không rõ, từ địa bàn này nghe thành địa bàn kia nên Phó Hạt trưởng đã xử lý thông tin không đúng. Ngay sau buổi kiểm tra hiện trường, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định đã yêu cầu cách chức ngay Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão nhưng sau khi họp bàn và nêu rõ trách nhiệm, chúng tôi thấy việc này chưa phù hợp.”

Về thông tin ban đầu, diện tích rừng bị phá các cơ quan nói chính xác đến con số lẻ là 43,7ha, ông Phan Trọng Hổ cho rằng: “Ban đầu bằng mắt thường nên anh em xác định con số như vậy. Sau khi đo đạc chính thức, con số chính xác là 60,9ha.”

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện An Lão Phạm Văn Nam cho rằng Ủy ban Nhân dân huyện đã ban hành và thực hiện kế hoạch truy quét đối tượng phá rừng ở vùng giáp ranh, trong đó có lực lượng Kiểm lâm tham gia. Khu vực truy quét là tiểu khu 1, 5, 16, giáp ranh với các huyện Hoài Nhơn (Bình Định) và Ba Tơ (Quảng Ngãi).

Thời gian truy quét từ ngày 23/6-23/7 nhưng lực lượng Kiểm lâm thực hiện kế hoạch này không nghiêm túc, chỉ truy quét tiểu khu 5, 16, không truy quét tiểu khu 1. “Nếu lực lượng Kiểm lâm thực hiện đúng kế hoạch truy quét, chắc chắn sẽ không có vụ phá rừng nghiêm trọng như vậy,” ông Nam khẳng định.

Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão Đoàn Văn Tá cho biết lực lượng Kiểm lâm có truy quét tiểu khu 1 nhưng chỉ truy quét ở các khoảnh khác, không truy quét khoảnh 7, khoảnh 8. Trong khi đó, hai khoảnh rừng này nằm dưới thung lũng nên khó quan sát.

Trên thực tế, vùng rừng bị tàn phá trải dài trên cả ba quả đồi chứ không chỉ những vùng thấp, đứng bên đồi này có thể nhìn thấy vùng đồi bị phá rừng. Nếu chỉ tính khoảng thời gian phá rừng theo ngành Kiểm lâm Bình Định báo cáo từ 4-31/8, trong khi ông Hạt trưởng Kiểm lâm đi học từ 7-17/8, tức sau nửa tháng khi ông Hạt trưởng Hạt kiểm lâm hoàn thành khóa học, tình trạng phá rừng vẫn diễn ra. Thế nhưng Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định vẫn “bỏ qua” trách nhiệm cho Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão, bỏ qua chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy.

Việc thực hiện kế hoạch truy quét và tuần rừng của lực lượng Kiểm lâm An Lão cũng có vấn đề không nhất quán trong báo cáo và thực tế. Ông Tá khẳng định có truy quét tiểu khu 1 nhưng ở các khoảnh khác, bỏ qua khoảnh 7 và 8, trong khi tiểu khu 1 có 9 khoảnh. Như vậy, tại sao lực lượng kiểm lâm lại “bỏ qua” địa điểm đúng nơi rừng bị tàn phá suốt một thời gian rất dài?

Theo ông Phan Trọng Hổ, gần đây có một người chăn trâu đến gặp tổ công tác và tự nhận mình là người phá rừng. Người này làm thuê và trước đây cũng là lái xe cho ông Lê Văn Thiệt, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh tổng hợp Thương Thảo (doanh nghiệp bị tình nghi phá rừng). Điều kỳ lạ hơn, rất nhiều người tự nhận mình là người phá rừng. Theo nhận định ban đầu, các đối tượng này được chủ mưu phá rừng thuê để nhận trách nhiệm chia nhỏ phần rừng bị phá hòng chạy tội.

Qua các bước điều tra, xác minh, cơ quan chức năng đã phát hiện gần 27m3 gỗ và 28 ster củi trong nhà máy chế biến dăm gỗ tại thôn Tường Sơn, xã Hoài Sơn (Hoài Nhơn). Về việc này, ông Phan Trọng Hổ nói: Qua khảo sát bằng mắt thường nhận biết số gỗ này có nguồn gốc từ vùng rừng bị phá. Nhà máy chế biến dăm gỗ này thuộc Công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh tổng hợp Thương Thảo.

Đáng chú ý, trong các báo cáo, làm việc gần đây của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm Bình Định luôn “bỏ qua” chi tiết có đến 30ha rừng gần khu vực rừng vừa bị tàn phá đã được Công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh tổng hợp Thương Thảo trồng keo lai từ 2-3 năm qua. (VietnamPlus.vn 20/9; Vietnamnet.vn 20/9; TTXVN/Bnews.vn 20/9; News.zing.vn 20/9; Đất Việt Online 20/9; Doanhnghiepvn.vn 20/9; Dân Trí 20/9; Nhaquanly.vn 20/9; Hoinhabaovietnam.vn 20/9; Congankhanhhoa.gov.vn 20/9) Về đầu trang

Vụ phá 60,9 ha rừng tự nhiên: Chủ tịch tỉnh Bình Định nói gì?

Ngày 20/9, UBND tỉnh Bình Định tổ chức họp xử lý trách nhiệm các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc lâm tặc tàn phá 60,9 ha rừng tự nhiên tại xã An Hưng (huyện An Lão).

Phát biểu tại cuộc họp, ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bình Định cho biết: Sở đã tổ chức kiểm điểm trách nhiệm các công chức Kiểm lâm có liên quan và tạm đình chỉ 2 công chức trực chốt chặn tại xã Hoài Sơn (huyện Hoài Nhơn). Điều chuyển công tác 2 kiểm lâm phụ trách địa bàn xã An Hưng.

Theo cơ quan chức năng, thủ phạm gây ra vụ phá rừng chỉ có thể là doanh nghiệp, có khả năng thuê người, mở đường và mục đích phá rừng là để trồng keo. Có rất nhiều vị trí tại khu vực rừng bị phá đã được trồng cây keo con. Hạt Kiểm lâm huyện An Lão đã nhổ bỏ tất cả 7ha cây keo vừa được trồng mới trên diện tích rừng bị tàn phá.

Cơ quan chức năng cũng phát hiện 1 lô gỗ nghi có nguồn gốc từ vụ phá rừng xã An Hưng được tập kết tại Nhà máy sản xuất dăm gỗ Trường Sơn (Công ty cổ phần Đầu tư kinh doanh tổng hợp Thương Thảo) tại xã Hoài Sơn (huyện Hoài Nhơn). Hiện lô gỗ này đang bị Đội cơ động phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh Bình Định tạm giữ.

Theo ông Hồ Quốc Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, chỉ có một con đường độc đạo đi qua chốt chặn bảo vệ rừng tại xã Hoài Sơn nhưng lâm tặc vẫn có thể mang gỗ ra khỏi rừng là điều rất lạ. "Phải điều tra cho ra ai chủ mưu, cầm đầu vụ phá rừng. Đây là cả uy tín danh dự của tỉnh và trách nhiệm của tỉnh với Trung ương" - ông Dũng nói.

Ông Dũng đề nghị tập trung xử lý các cán bộ có liên quan đến phụ phá rừng trên địa bàn huyện An Lão và Hoài Nhơn, kể cả trách nhiệm quản lý nhà nước của Chi cục kiểm lâm. Tạm đình chỉ công tác Hạt phó Hạt kiểm lâm huyện An Lão, kiểm lâm phụ trách địa bàn xã An Hưng.

Riêng Hạt trưởng Hạt kiểm lâm An Lão thời điểm đó đang đi họp nhưng vẫn bị kiểm điểm trách nhiệm. Trạm kiểm lâm Hoài Sơn cũng phải tổ chức kiểm điểm xử lý trách nhiệm. Chủ tịch UBND xã An Hưng, Chủ tịch UBND huyện An Lão, Chi cục trưởng chi cục kiểm lâm, Giám đốc Sở NN&PTNT phải kiểm điểm nghiêm túc, báo cáo kết quả cho UBND tỉnh.

"Thời gian qua các lãnh đạo Trung ương rất quan tâm và liên tục hỏi thăm về vụ phá rừng quy mô lớn tại tỉnh. Vụ phá rừng trên đã gây ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của tỉnh Bình Định. Với cương vị là Chủ tịch tỉnh, tôi phải làm kiểm điểm để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Bằng mọi giá phải làm cho ra. Yêu cầu Chi cục kiểm lâm chỉ đạo Hạt kiểm lâm thường xuyên kiểm tra nguồn gốc gỗ tại các xưởng chế biến sản xuất gỗ trên địa bàn. Nếu Hạt nào để tồn tại gỗ lậu trong xưởng, ngay lập tức cách chức Hạt trưởng Hạt kiểm lâm" - ông Dũng nhấn mạnh. (Giao Thông Online 20/9; Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh Online 21/9; Tuổi Trẻ Online 20/9; VTVNews 20/9) Về đầu trang

Quảng Nam: Xác định đối tượng thuê người phá rừng phòng hộ

Chiều 20/9, Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam cho biết, đã có báo cáo gửi UBND tỉnh về vụ phá rừng phòng hộ tại xã Tiên Lãnh (huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam).

Trước đó, một số cơ quan báo chí phản ánh nhiều diện tích rừng phòng hộ ở xã Tiên Lãnh bị “xẻ thịt”, đốt cháy để lấy đất trồng keo. Diện tích rừng bị phá lên đến hàng trăm ha và thời gian phá rừng kéo dài nhưng cơ quan chức năng địa phương chỉ phát hiện một số vụ nhỏ lẻ.

Ngay sau khi tiếp nhận thông tin trên, UBND tỉnh Quảng Nam đã nhanh chóng chỉ đạo lực lượng chức năng vào cuộc điều tra, làm rõ.

Liên quan đến vụ phá rừng, Sở NN&PTNT cũng vừa có báo cáo gửi UNBD tỉnh Quảng Nam. Theo báo cáo, từ đầu năm đến ngày 15/9, Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam (Trạm Kiểm lâm Tiên Phước) đã kiểm tra và phát hiện trên địa bàn xã Tiên Lãnh xảy ra 10 vụ phá rừng tự nhiên, chức năng phòng hộ; diện tích rừng thiệt hại 23,776 ha (thuộc các Tiểu khu 556, 557); trong đó có 21,996 ha nằm trong diện tích giao khoán bảo vệ rừng do Ban quản lý dự án trồng rừng huyện Tiên Phước làm chủ dự án. Trong 10 vụ vi phạm nói trên, có một vụ vi phạm tại khu vực Dội Lớn (xã Tiên Lãnh, thuộc Tiểu khu 556).

Theo đó, ngày 17/8/2017, Trạm Kiểm lâm Tiên Phước phối hợp Ban quản lý trồng rừng huyện Tiên Phước tổ chức kiểm tra tại địa bàn xã Tiên Lãnh, phát hiện tại khoảnh 5 (Tiểu khu 556) có 7 người đồng bào dân tộc Ka Dong (huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam) đang gieo hạt keo trên diện tích phá rừng trái phép.

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản kiểm tra hiện trường, đình chỉ các hành vi vi phạm. Qua khai nhận, 7 đối tượng này cho biết, họ là người làm thuê cho ông Phùng Văn Bảy (trú tại thôn 9, xã Tiên Lãnh).

Làm việc với cơ quan chức năng, ông Bảy khai nhận đã phá rừng trái pháp luật tại khu vực Dội Lớn (Khoảnh 5, Tiểu khu 556) diện tích khoảng 2 ha. Trong khi đó, lực lượng chức năng xác định rừng phòng hộ bị phá ở khu vực Dội Lớn gần 5 ha.

Liên quan đến tình trạng phá rừng, vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng đã yêu cầu tỉnh Quảng Nam chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra làm rõ vụ phá rừng ở xã Tiên Lãnh. (Công Lý Online 20/9; Lao Động Online 20/9; Công An Thành Phố Hồ Chí Minh Online 20/9; VnMedia.vn 20/9) Về đầu trang

Gần 110ha rừng phòng hộ ở Quảng Nam bị tàn phá do đâu?

Nguyên nhân dẫn đến vụ phá gần 110 ha rừng phòng hộ ở xã Tiên Lãnh được cho là do buông lỏng quản lý.

Liên tiếp các vụ phá rừng lên đến cả trăm héc-ta vừa xảy ra ở Tiểu khu 556, 557 thuộc khu vực rừng phòng hộ xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Rừng bị tàn phá trước sự bất lực của chính quyền và ngành chức năng địa phương. Với tốc độ phá rừng như hiện nay, sớm muộn, hơn 2.600 héc-ta rừng phòng hộ ở huyện Tiên Phước sẽ bị san phẳng để trồng keo.

Phải mất hơn 2 tiếng đồng hồ lội bộ đường rừng mới có thể đến được khu vực rừng bị chặt phá. Ông Dương Văn Tỵ, thành viên nhóm 16 người thuộc Đội Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam cho biết, khu vực này rất ít khi có ai vào, kể cả thành viên của Đội Quản lý bảo vệ rừng.

Ông Tỵ được giao quản lý 10 héc-ta rừng phòng hộ. Một tháng vài lần ông lặn lội vào kiểm tra. Theo ông Tỵ, có người nhận quản lý bảo vệ rừng nhưng không hề biết đất rừng mình quản lý ở đâu. Nghĩa là cứ đến tháng nhận tiền, rừng mất mặc kệ. Ông Tỵ nói rằng, cán bộ huyện, xã thì không bao giờ thấy mặt, vì vậy các đối tượng phá rừng mặc sức tung hoành.

Vụ phá rừng mới nhất xảy ra tại đây vừa được phát hiện do Phùng Văn Bảy cầm đầu. Đối tượng này đã thuê người dân địa phương vào rừng phòng hộ chặt cây lấy gỗ, đồng thời “gom” đất để trồng keo.

Người dân địa phương kể lại, không chỉ có người ở xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước làm thuê cho các đối tượng phá rừng mà có cả người dân ở huyện Bắc Trà My. Một số vụ phá rừng có sự tiếp tay của những người từng là cán bộ lãnh đạo huyện, xã.

Ông Trần Ngọc Sơn, Thôn trưởng Thôn 8, xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước cho biết, trong nhiều cuộc họp thôn, người dân nêu rõ tên những người đứng đằng sau các vụ phá rừng và đề nghị xử lý, thế nhưng rừng vẫn bị tàn phá; trong khi đó cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn có cũng như không.

“Lâu lâu cán bộ lâm nghiệp cũng đi với kiểm lâm địa bàn, nhưng khi kiểm lâm đi là họ biết hết rồi. Có khi ban đêm cũng đi, nhưng đi lên rồi về không. Tôi thấy kiểm lâm đi mà bắt không được là do chỉ có điện thoại thôi. Một chủ mà có vài ba chục héc-ta đó là do có người đứng phía sau, người có quyền, có tiền, có thế lực đứng phía sau”, ông Sơn nói.

Xã Tiên Lãnh nằm cách trung tâm huyện miền núi Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam khoảng 30 cây số. Khu vực rừng bị tàn phá nằm giáp ranh với các huyện miền núi Bắc Trà My, Hiệp Đức, đường sá đi lại rất khó khăn. Tuy nhiên, so với các huyện vùng cao ở tỉnh Quảng Nam thì khu vực này chưa thể nói là núi cao vực thẳm.

Ông Hường Minh, Chủ tịch UBND huyện Tiên Phước giải thích, nguyên nhân dẫn đến vụ phá gần 110 héc-ta rừng phòng hộ ở xã Tiên Lãnh là do buông lỏng quản lý.

Hạt Kiểm lâm huyện sau khi trực thuộc Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam đã thiếu sự phối hợp với chính quyền địa phương. Lãnh đạo huyện không thể chỉ đạo lực lượng này như trước kia. Mặt khác, chính quyền cấp xã gần như thả lỏng công tác quản lý bảo vệ rừng.

Ông Minh cho biết thêm, từ năm 2011 đến nay, sau khi có quyết định điều chỉnh 3 loại rừng thì huyện chuyển gần 40 héc-ta rừng phòng hộ thuộc Tiểu khu 556 và 557 ở xã Tiên Lãnh sang rừng sản xuất, trong đó có 21 héc-ta rừng đã đưa vào khoanh nuôi, giao khoán cho hộ nhưng vẫn bị chặt phá.

Ông Minh nói: “Dân Tiên Phước chúng tôi đông so với các huyện miền núi, khoảng 80.000 dân, diện tích rừng là 45.000 héc-ta. Trong đó dành cho rừng phòng hộ gần 2.600 héc-ta. Những người cán bộ khi nghỉ hưu rồi có được ít tiền là mong muốn mua rừng nhưng rừng bây giờ sang nhượng khó nên nhờ người phá rồi sau đó bán lại”.

Cây keo ngày càng có giá trị kinh tế cao. Nhiều người dân nơi đây mang cưa vào rừng chặt phá không thương tiếc rừng phòng hộ để lấy đất trồng keo. Gần 110 héc-ta rừng phòng hộ bị tàn phá, liệu chính quyền địa phương và các đơn vị quản lý, bảo vệ rừng không hề hay biết?.

Ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam thừa nhận: “Việc phá rừng ở Tiểu khu 556, 557, hiện Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Chi cục Kiểm lâm đã vào cuộc, cử đoàn công tác cùng với Ủy ban nhân dân huyện có mặt tại hiện trường, sẽ rà soát đánh giá hết toàn bộ diện tích đất rừng đã bị phá, xử lý nghiêm minh theo hình sự, hành chính đúng quy định của pháp luật, để răn đe, ngăn chặn tình trạng này”.

Sau hơn 1 năm Thủ tướng Chính phủ có lệnh đóng cửa rừng nhưng nhiều cánh rừng ở miền Trung vẫn bị tàn phá. Tại tỉnh Quảng Nam, năm ngoái xảy ra vụ phá rừng pơmu ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào, thuộc địa bàn huyện Nam Giang. Bây giờ lại tiếp tục xảy ra vụ phá rừng quy mô lớn ở huyện miền núi Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Phải chăng, chính quyền địa phương và các ngành chức năng đã buông lỏng công tác quản lý, bảo vệ rừng???. (VOVNews 20/9) Về đầu trang

Quảng Nam đầu tư 25,5 tỷ đồng phục hồi rừng dừa nước

UBND tỉnh Quảng Nam vừa quyết định đầu tư 25,5 tỷ đồng để triển khai dự án Trồng và phục hồi rừng dừa nước ven biển Cẩm Thanh.

Theo đó, điều chỉnh mật độ trồng mới rừng dừa từ 4.400 cây/ha lên 4.440 cây/ha; điều chỉnh mật độ trồng bổ sung từ 100 – 150 cây/ha thành 300 cây/ha đối với diện tích quy hoạch trồng bổ sung 61,15 ha và 500 cây/ha đối với diện tích quy hoạch 27 ha để hướng đến mật độ thành rừng dừa sau thời gian kiến thiết cơ bản, đảm bảo mật độ chung 3.300 – 3.500 cây/ha.

Xã Cẩm Thanh cách phố cổ Hội An 4km, được ví như một “Nam bộ trong lòng phố Hội”; là vùng đất nằm giữa nơi hợp lưu của hạ nguồn sông Thu Bồn, Đế Võng, Trường Giang. Vùng nước này thường xuyên nhiễm mặn, là điều kiện thuận lợi cho cây dừa nước sinh sôi nảy nở. Rừng dừa nước Cẩm Thanh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội gắn với du lịch tại TP Hội An. Việc phục hồi rừng dừa nước Cẩm Thanh không chỉ có ý nghĩa phát triển du lịch mà còn tạo ra hành lang xanh bền vững trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở đây. (Baodulich.net.vn 20/9) Về đầu trang

Tổ chức Bảo tồn Quốc tế nỗ lực trồng lại rừng Amazon

Theo tin từ Reuters, Tổ chức Bảo tồn Quốc tế - một tổ chức bảo vệ môi trường, vừa công bố dự án sẽ bổ sung thêm 73 triệu cây bản địa vào khu rừng Amazon của Brazil tới năm 2023.

Tuy nhiên, các nhà môi trường cho rằng, nỗ lực đầy tham vọng nhằm khôi phục vùng Amazon có thể giúp làm giảm những tổn thất về rừng ở Brazil chỉ khi nó được kết hợp với các chính sách nghiêm ngặt hơn để kiềm chế việc khai thác gỗ và mở rộng canh tác nông nghiệp trong các khu rừng.

Được biết, nỗ lực nhằm giúp Brazil đạt được mục tiêu khôi phục lại 12 triệu ha rừng vào năm 2030 trong khuôn khổ Hiệp định Paris để hạn chế sự biến đổi khí hậu sẽ là nỗ lực tái trồng rừng nhiệt đới lớn nhất trên thế giới tính đến nay. (Baothuathienhue.vn 20/9) Về đầu trang

Về việc chồn hương bị đối xử dã man: Không nuôi để làm cà phê chồn

Liên quan đến thông tin cho rằng chồn hương (cầy hương) đang bị đối xử dã man để sản xuất cà phê chồn, một số nông dân khẳng định đây là thông tin thiếu chính xác. Trên thực tế, nông dân chỉ nuôi cầy vòi hương để làm cà phê chồn chứ không phải nuôi chồn hương.

Sau khi có thông tin cho rằng chồn hương (cầy hương) đang bị một số người đối xử dã man để sản xuất cà phê chồn, phóng viên Dân Việt đã liên hệ với một số nông dân, doanh nghiệp đang sản xuất cà phê chồn tại Đắk Lắk để tìm hiểu thực hư.

Ông Hoàng Mạnh Cường, Giám đốc Công ty TNHH MTV Kiên Cường (03 Hoàng Hoa Thám, TP.Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk - một đơn vị chuyên sản xuất cà phê chồn) khẳng định không có bất cứ ai nuôi chồn hương để làm cà phê chồn. “Chúng tôi không nuôi chồn hương để làm cà phê chồn. Động vật chúng tôi đang nuôi là cầy vòi hương- một loại hoàn toàn khác với chồn hương”- ông Cường khẳng định.

Cũng theo ông Cường, cầy vòi hương được nuôi để làm cà phê chồn không những không bị “đối xử dã man” mà ngược lại còn được chăm sóc rất kỹ. “Chúng được nuôi gần như tự nhiên và rất tự do. Môi trường nuôi nhốt chúng chẳng những không thô bạo mà còn rất an toàn”- ông Cường nói.

Ông Cường cho biết, nếu trong tự nhiên cầy vòi hương có tuổi thọ lý tưởng là 15 năm thì số ở tại trang trại của ông động vật này có tuổi thọ trung bình từ 10-11 năm. Để những con cầy vòi hương này phục vụ cho việc kinh doanh của mình, ông đã tốn nhiều công sức và tiền bạc để chăm sóc chúng.

Ông Nguyễn Quốc Khánh (chủ trang trại cầy vòi hương ở thôn 6 xã Krông Buk, huyện Krông Păk, Đắk Lắk) cũng cho biết, cầy vòi hương nuôi để làm cà phê chồn rất được “cưng”.

“Chúng được cho ăn trái cây, thịt, cá… và được chăm sóc rất kỹ càng mỗi khi bị đau ốm. Ngoài việc chúng giúp chúng tôi sản xuất ra loại cà phê đặc biệt thì giá trị thương phẩm của chúng cũng rất cao, nên không có lý do gì chúng tôi phải đối xử thô bạo với chúng” - ông Khánh cho hay.

 “Có người cho rằng chúng tôi bỏ đói cầy vòi hương để buộc chúng ăn cà phê nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Chỉ có những con cầy vòi hương khỏe mạnh mới chịu ăn loại thức ăn khó ăn này”- ông Khánh nói.

Ông Khánh cho biết, hiện ông có hai cơ sở nuôi cầy vòi hương ở Đắk Lắk và Lâm Đồng. Ở cả hai cơ sở này, cầy vòi hương được nuôi trong môi trường bán tự nhiên, chúng gần như được tự do như ở môi trường bên tự nhiên. Cũng chính nhờ thế đàn cầy vòi hương của ông phát triển rất nhanh, từ chưa đến 10 con năm 2006 đến nay đã có hàng trăm con.

Một giảng viên tại trường Đại học Tây Nguyên cũng khẳng định động vật đang được nuôi để làm cà phê chồn là cầy vòi hương chứ không phải chồn hương. Hai loại này hoàn toàn khác nhau, cụ thể cầy vòi hương có tên khoa học là  paradoxurus hermaphroditus còn cầy hương có tên khoa học là viverricula indica.

Cả hai loài này đều ăn cả động vật và thực vật nhưng cầy hương thì ăn động vật nhiều hơn. Chính vì thế nó không được nuôi để sản xuất cà phê chồn. “Trước đây, chính vì nhầm lẫn này mà một số cơ sở nuôi cầy vòi hương đã gặp rất nhiều khó khăn do vướng nghị định 32 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.”- giảng viên này thông tin thêm. (Danviet.vn 20/9) Về đầu trang

Chi Cục Kiểm lâm nói gì về vụ phá rừng phòng hộ ở Quảng Nam?

Thống kê ban đầu của cơ quan chức năng, năm 2017 tại Tiên Lãnh xảy ra 10 vụ phá rừng phòng hộ với diện tích hơn 23 ha.

Trực tiếp lên hiện trường vụ phá rừng phòng hộ tại xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước, Quảng Nam, ông Phan Tuấn – Chi Cục trưởng Chi Cục kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho biết: Nhiều diện tích rừng phòng hộ tại tiểu khu 556, 557 thuộc xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước bị chặt phá. Hiện số liệu vụ phá rừng vẫn đang tiếp tục được tổ công tác thống kê, rà soát để tổng hợp báo cáo chính thức.

“Hiện các thành viên của tổ công tác vẫn đang bám chốt ở hiện trường để rà soát đánh giá hết toàn bộ diện tích, đo đếm hiện trường của các năm theo tinh thần khẩn trương, xử lý theo quy định pháp luật. Riêng vụ phá rừng của năm 2017 hiện nay đã có hồ sơ rồi, khả năng sớm khởi tố vụ án” – ông Tuấn nói.

Về mức độ nghiêm trọng vụ việc, ông Tuấn cho rằng cần có số liệu tổng hợp đầy đủ mới có thế đánh giá nghiêm trọng hay không. Hiện tổ công tác vẫn đang bám hiện trường để đo đếm, rà soát cố gắng báo cáo kịp tiến độ.

Cùng ngày, Sở NN&PTNT Quảng Nam cho biết đã có báo cáo số 248/ BC-SNN&PTNT gửi UBND tỉnh Quảng Nam về tình hình phá rừng để trồng rừng trái phép tại xã Tiên Lãnh.

Theo đó, thống kê của Chi cục Kiểm lâm, từ đầu năm 2017 đến ngày 15/9/2017, Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam (Trạm Kiểm lâm Tiên Phước) đã kiểm tra và phát hiện trên địa bàn xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước xảy ra 10 vụ phá rừng tự nhiên, chức năng phòng hộ; diện tích rừng thiệt hại 23,776 ha (thuộc các Tiểu khu 556, 557); trong đó có 21,996 ha nằm trong diện tích giao khoán bảo vệ rừng do Ban quản lý dự án trồng rừng huyện Tiên Phước làm chủ dự án.

Trong  10 vụ vi phạm nói trên, có 1 vụ vi phạm tại khu vực Dội Lớn, xã Tiên Lãnh (Tiểu khu 556), bước đầu đã xác định được đối tượng vi phạm là ông Phùng Văn Bảy (trú tại thôn 9, xã Tiên Lãnh). Ông Bảy đã thuê 7 người đồng bào dân tộc Ka Dong gieo hạt Keo trên diện tích rừng trái phép. 7 người được ông Bảy thuê gồm ông Đinh Hữu Tiến; Trịnh Văn Tiến; Trần Văn Mẫn; Ông Trần Văn Trích; Bà Nguyễn Thị Hoa; Nguyễn Thị Minh Thủy; Bà Nguyễn Thị Hiền (cùng trú tại địa chỉ thôn 1, xã Trà Ka, huyện Bắc Trà My) gieo hạt trên diện tích phá rừng trái phép.

Ông Bảy khai nhận phá rừng trái pháp luật tại khu vực Dội Lớn (Khoảnh 5, Tiểu khu 556) diện tích khoảng 2 ha. Qua kiểm tra hiện trường ban đầu xác định diện tích rừng bị thiệt hại tại khu vực Dội Lớn (Khoảnh 5, 6, Tiểu Khu 556) là 4,965 ha (chức năng phòng hộ).

Hiện, Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam đã ban hành Kế hoạch về việc khám nghiệm hiện trường và phối hợp điều tra vụ phá rừng có dấu hiệu tội phạm tại xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước. Đồng thời, tiến hành mời các ngành chức năng huyện và UBND xã Tiên Lãnh để phối hợp khám nghiệm hiện trường, xác định diện tích, tài nguyên rừng thiệt hại để xử lý vụ vi phạm theo đúng quy định pháp luật.

Các vụ vi phạm còn lại Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam tiếp tục phối hợp các cơ quan chức năng huyện và chính quyền địa phương xã Tiên Lãnh, xác minh hoàn chỉnh hồ sơ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Dự kiến ngày 22/9, đích thân Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh sẽ trực tiếp đến hiện trường và làm việc với cơ quan chức năng về vụ việc. (Tiền Phong Online 20/9) Về đầu trang

Thận trọng trong phát triển cây cao-su tại các tỉnh Bắc Trung Bộ

Cơn bão số 10 gây thiệt hại lớn đối với sản xuất và đời sống của người dân các tỉnh miền trung, trong đó diện tích cây cao-su ở hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị bị đổ gãy khá lớn. Cùng với việc khẩn trương khôi phục sản xuất, cần có giải pháp trong việc phát triển cây công nghiệp bền vững trên vùng đất thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa bão.

Chúng tôi đến vùng đất đồi Võ Thuận ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình) rộng gần 500 ha, được xem là thủ phủ cao-su của người dân xã gò đồi Tây Trạch, tận mắt chứng kiến cảnh rừng cao-su mới bước vào tuổi khai thác mủ tan hoang sau cơn bão số 10. Ông Lê Hồng Sơn, ở thôn 3 Võ Thuận, xã Tây Trạch, cho biết, rừng cao-su của gia đình hơn 5 ha, trong đó có 4 ha đã đưa vào khai thác. Sau bão, cả rừng cây bị gió đánh tan hoang. Ông Sơn chia sẻ: “Rừng cao-su đã qua được trận bão năm 2008, rồi vượt qua được bão lớn năm 2013, nhưng đến trận bão vừa rồi thì gục ngã. Bốn ha cao-su sau khi trừ chi phí cho thu nhập 2,5 triệu đồng mỗi ngày, chỉ sau mấy tiếng đồng hồ gió bão quăng quật chừ (giờ) chỉ chặt bán củi”.

Bên kia đường là vạt rừng rộng hơn 2 ha của anh Dương Đức Phiệt, ở thôn 2 Võ Thuận, xã Tây Trạch. Giữa rừng cao-su, anh bần thần như không tin tài sản có giá trị lớn của gia đình nay chỉ là đống đổ nát. “Đúng là trời cho chộ (thấy) nhưng không cho ăn, chừ giá tăng lên, người trồng có lãi khá thì bão phá hết. Tui cũng may mới rồi bòn mót trả nợ vay ngân hàng vừa xong”- anh Phiệt chua chát nói. Khi được hỏi, sau đợt này anh có còn ý định trồng cao-su nữa không, anh Phiệt cho biết có thể tiếp tục trồng. Cây cao-su đã mang lại sự no đủ cho người dân Tây Trạch nên khó tìm cây khác thay thế.

Theo Chủ tịch UBND xã Tây Trạch Dương Văn Khánh, toàn xã có 1.100 ha cao-su và phần lớn được đưa vào khai thác. Bình quân mỗi ngày, 1 ha cao-su cho thu nhập 500 nghìn đồng. Như vậy, mỗi ngày, người dân Tây Trạch có thu nhập khoảng 500 triệu đồng. Xã đang phấn đấu vào cuối năm nay sẽ cán đích xây dựng nông thôn mới, nhưng có thể sẽ gặp khó khăn do thiệt hại sau bão.

Huyện Bố Trạch là địa phương có diện tích cây cao-su lớn nhất tỉnh Quảng Bình. Ngoài diện tích cao-su của các hộ dân thì Công ty TNHH MTV Việt Trung cũng có hơn 1.000 ha cao-su đang khai thác. Phó Giám đốc Công ty Phan Văn Thành cho biết, bốn năm trước, cơn bão số 10 (năm 2013) đã khiến hầu hết diện tích cao-su của Công ty đổ gãy, gây thiệt hại lớn chưa kịp hồi phục, thì cơn bão số 10 năm nay lại tàn phá hơn 70% diện tích còn lại, trong đó hơn 40% số cây buộc phải chặt bỏ, ước tính thiệt hại hàng chục tỷ đồng.

Do ảnh hưởng của bão số 10, tỉnh Quảng Trị có hơn 2.500 ha cây cao-su bị đổ gãy. Tại vùng trồng cao-su tiểu điền của các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, những cây cao-su có đường kính từ 20 đến 25 cm bị gãy ngang thân hàng loạt, thân gãy lìa gốc ngổn ngang và vô số cây bật rễ, ngả nghiêng. Dừng tay đốn hạ những thân cao-su gãy, lau mồ hôi, anh Trần Văn Phương, ở xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh chia sẻ: “Sau bão, người dân trồng cao-su ra vườn thấy cây nghiêng ngả, gãy đổ ai cũng bật khóc. Cả gia tài, chỉ trong chớp mắt cuốn phăng theo bão. Bao công sức, tiền vốn đổ ra mấy năm trời rứa là trắng tay”. Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh Trần Hữu Hùng cho biết, toàn huyện có hơn 1.500 ha cao-su bị đổ gãy, trong đó nhiều diện tích thiệt hại hơn 70%. Ngoài nguyên nhân chính khiến cây cao-su bị thiệt hại là do bão số 10 quá mạnh, thân cây giòn không chịu được sức gió, còn có nguyên nhân người trồng cao-su chỉ chú trọng đến việc mở rộng diện tích mà ít quan tâm đến việc trồng cây tạo vành đai chắn gió cho vườn. Một số hộ gia đình kiến thiết vườn cây cao-su chạy theo số lượng, nên trồng với mật độ quá dày tạo nên sức cản gió lớn khiến cây nhanh chóng gãy đổ khi gặp bão. Trong khi khai thác cao-su chạy theo lợi nhuận nên cạo mủ theo kiểu “vắt kiệt” khiến cây cao-su yếu không đủ sức chống chịu được với gió bão.

Quảng Bình từng là địa phương phát triển diện tích cao-su khá “nóng”, do hiệu quả của loại cây công nghiệp này mang lại. Ở địa phương đã hình thành những “thị trấn cao-su”, “xã cao su”, với doanh thu hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Nhiều nông dân làm giàu, xây dựng được cơ nghiệp từ cây cao-su. Song, sau trận bão số 10 (năm 2013), việc phát triển cây cao-su tại đây chững lại. Nhiều người đã chuyển sang trồng các loại cây khác, nhưng thu nhập còn hạn chế, cho nên vẫn muốn đầu tư trồng cao-su. Hiện toàn tỉnh có hơn 15 nghìn ha cao-su; trong đó có gần 10 nghìn ha đang trong thời kỳ khai thác. Trận bão vừa qua đã làm cho gần 3.500 ha cao-su đổ gãy, trong đó khá nhiều diện tích phải phá bỏ. Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình Nguyễn Hữu Hoài cho biết, để giảm thiệt hại trong sản xuất, tỉnh đã có chủ trương chuyển đổi một phần đất trồng cao-su sang trồng cỏ nuôi bò theo hướng phát triển hàng hóa, trồng rừng bản địa, trồng cây ăn quả. Hiện, tỉnh đã chuyển đổi hơn 400 ha đất trồng cao-su trước đây cho một doanh nghiệp chăn nuôi 1.500 con bò thịt.

Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Nguyễn Đức Chính cũng khẳng định, hiệu quả kinh tế từ cây cao-su cho thấy chủ trương mở rộng và phát triển cây cao-su trên địa bàn tỉnh Quảng Trị thời gian qua là hoàn toàn đúng đắn, hợp lòng dân... Tuy nhiên, để cây cao-su phát triển bền vững hơn, các ngành liên quan và địa phương cần rà soát lại quy hoạch chi tiết các vùng trồng cây cao-su trên địa bàn tỉnh; không mở rộng thêm diện tích cây cao-su ở vùng ven biển trực tiếp đón gió bão; không nên trồng lại cây cao-su bằng mọi giá.

Dưới góc nhìn của một doanh nghiệp có truyền thống gần 60 năm trồng cao-su tại Quảng Bình, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Việt Trung Phan Văn Thành cho rằng, thực tế là đơn vị đã chuyển đổi một số diện tích đất sang trồng các loại cây khác, nhưng chưa thành công do đặc tính thổ nhưỡng không phù hợp hoặc khó khăn về đầu ra. Mặt khác, trước đây tại Quảng Bình chu kỳ 20, 30 năm mới có một trận bão lớn, nhưng nay thì tần suất rất dày, cứ ba đến bốn năm có một trận gió bão dữ dội. Công ty trong nhiều năm qua đã đưa 12 giống cao-su vào trồng thử nghiệm và chọn được năm giống cây, dù sản lượng mủ khiêm tốn nhưng tính chống chịu gió bão khá cao. Tất cả các loại cây đó đều không thể trụ lại được với sức gió bão giật cấp 12, 14 như trận bão số 10 (năm 2013) và cơn bão vừa rồi.

Với nhiều người dân trồng cao-su ở Quảng Bình và Quảng Trị, tuy bị thiệt hại nặng sau cơn bão, nhưng nhiều người vẫn có ý định trồng lại loại cây công nghiệp chủ lực này. Ước mơ làm giàu vẫn thôi thúc họ tìm cách vượt qua khó khăn để vươn lên. Vì thế, Nhà nước cần sớm tạo ra các loại cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu, nhưng vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân. Đó mới là cách tốt nhất giúp người dân ổn định đời sống trên vùng đất thiên tai khắc nghiệt. (Nhân Dân Online 20/9) Về đầu trang

Lâm Đồng: Nhiều sai phạm tại khu du lịch hồ Tuyền Lâm

Sau khi Báo Người Lao Động ngày 25-8 có bài viết "Đề xuất xử lý vi phạm tại hồ Tuyền Lâm", Thanh tra tỉnh Lâm Đồng đã vào cuộc làm rõ. Thanh tra tỉnh Lâm Đồng kết luận Ban Quản lý Khu Du lịch hồ Tuyền Lâm (BQL) chưa thực hiện hết chức năng quản lý và giám sát toàn diện các hoạt động; chưa tham mưu đề xuất UBND tỉnh về các vấn đề đầu tư, quản lý hoạt động; chưa phối hợp các ngành chức năng và chính quyền sở tại giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động của khu du lịch này.

Cụ thể, BQL chưa phối hợp cơ quan chức năng để tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo xử lý các dự án đầu tư chậm tiến độ, xây dựng công trình không phép trên đất dự án và ngoài dự án thuộc khu vực bảo vệ I - là khu vực chỉ khi Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch chấp thuận mới được xây dựng. Ngoài ra, BQL không lập thủ tục thuê đất, không nộp tiền gia hạn tiến độ thực hiện dự án theo quy định, để đơn vị sửa chữa du thuyền làm ảnh hưởng mỹ quan.

Qua kiểm tra ngẫu nhiên 15 dự án tại khu du lịch này cho thấy tất cả đều chậm tiến độ đầu tư. Trong đó, 12 dự án hết thời gian gia hạn tiến độ, 4 dự án chưa nộp tiền gia hạn tiến độ với tổng số hơn 1,3 tỉ đồng, 2 dự án xây dựng các công trình không phép là đường hầm điêu khắc (chủ đầu tư là Công ty CP Sao Đà Lạt) và khu trung tâm giải trí du lịch, hội nghị cao cấp (chủ đầu tư là Công ty TNHH May thêu - Thương mại Lan Anh), 14 dự án chưa hoàn thành thủ tục thuê đất, quy hoạch xây dựng tổng thể và chi tiết, chưa chuyển mục đích sử dụng đất, chưa điều chỉnh giấy phép xây dựng... Riêng dự án khu nghỉ dưỡng và an dưỡng cao cấp quốc tế (do Công ty TNHH Đất Việt - Đà Lạt làm chủ đầu tư) thuê đất từ năm 2008 nhưng đến nay không triển khai, không có địa chỉ liên lạc.

Kết luận thanh tra cũng nêu rõ trong công tác phối hợp giữa BQL và các chủ đầu tư để quản lý, bảo vệ rừng tại các dự án còn chưa chặt chẽ, để xảy ra các vi phạm về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

Trong khi đó, ngày 20-9, một lãnh đạo UBND TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng cho biết hiện đoàn kiểm tra liên ngành với sự tham gia của các sở, ngành liên quan cùng chính quyền địa phương và BQL đang kiểm tra hoạt động tại dự án Khu nghỉ dưỡng Đà Lạt Star (còn gọi là đường hầm điêu khắc). Dự kiến, kết luận kiểm tra sẽ có vào cuối tháng 9. (Người Lao Động Online 21/9) Về đầu trang

Dư luận xôn xao trước dự án khai thác gần 750ha rừng thông 3 lá ở Lâm Đồng

Những ngày qua, dư luận xôn xao trước thông tin UBND tỉnh Lâm Đồng quyết định phê duyệt dự án khai thác gần 750ha rừng thông 25 năm tuổi, nằm rải rác tại một số tiểu khu trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Việc khai thác này có làm ảnh hưởng, thiệt hại đến môi trường sinh thái, du lịch, cảnh quan và có lợi ích gì về mặt kinh tế - xã hội của địa phương không?, dư luận đang rất băn khoăn.

Ông Phùng Khắc Đồng – Chánh văn phòng UBND tỉnh Lâm Đồng, người phát ngôn của UBND tỉnh nhấn mạnh: “Đây là dự án kế hoạch khai thác với diện tích rừng trồng sản xuất chứ không phải rừng tự nhiên...”.

Văn bản số 5353, ngày 16-8-2017, UBND tỉnh Lâm Đồng phê duyệt kế hoạch khai thác trắng tổng diện tích 746,74ha rừng thông 3 lá - loại trồng sản xuất kinh doanh (SXKD), độ tuổi từ 25 năm trở lên, tại một số tiểu khu trên địa bàn ba huyện Đơn Dương, Di Linh, Bảo Lâm. Giao cho 5 công ty lâm nghiệp trực thuộc quản lý của nhà nước, đóng chân trên địa bàn các huyện trên, thực hiện.

Việc khai thác kéo dài trong 5 năm, từ năm 2017-2020. Yêu cầu các công ty lập kế hoạch thực hiện khai thác tới đâu trồng rừng ngay tới đó, đảm bảo độ che phủ của rừng. Không tổ chức khai thác khi chưa chuẩn bị về giống và các điều kiện cần thiết để trồng lại rừng. Rừng trồng mới cũng là thông 3 lá; yêu cầu năng suất, chất lượng cao theo mục đích kinh doanh (KD) gỗ lớn. Quy trình khai thác trắng rừng trồng thực hiện theo Thông tư số 21/2016 của Bộ NN-PTNT, quy định về khai thác chính và tận dụng, tận thu lâm sản...

Ước tính trữ lượng gỗ tròn đạt 103.440m3 nếu khai thác hết gần 750 ha rừng thông 3 lá; bán với giá 1,6 triệu đồng/m3, tỉnh Lâm Đồng sẽ thu về hơn 165,5 tỷ đồng. Trừ chi phí, lợi nhuận trước thuế còn khoảng 53 tỷ đồng. Toàn bộ số gỗ tròn sau khai thác bị cấm bán ra khỏi địa phương; ưu tiên bán cho các doanh nghiệp tinh chế gỗ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. UBND tỉnh giao Sở NN&PTNT hướng dẫn, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện.

Đó là trăn trở, suy nghĩ của nhiều người, cho rằng, quy trình khai thác – bán gỗ (sơ, tinh chế) – trồng rừng mới... đều sử dụng, xoay vòng nguồn kinh phí từ lợi nhuận đem lại của việc thực hiện dự án khai thác gần 750 ha gỗ rừng nêu trên. Nếu không quản lý chặt chẽ sẽ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp.

Cụ thể, nhiều ý kiến thắc mắc, cho rằng, lợi nhuận kinh tế thu được khi khai thác một diện tích lớn gỗ rừng thông 25 tuổi trở lên, chỉ đạt trên 68 triệu đồng/ha là... không cao, đồng thời tỏ ra lo ngại về việc có hay không chuyện “ăn theo dự án” khiến nhiều diện tích rừng tự nhiên kế cận cũng bị “khai thác”.

Ông Nguyễn Đức Phúc (61 tuổi, trú xã Liên Đầm, huyện Di Linh) bày tỏ: “Tôi nghĩ vẫn còn một bài toán khác. Các công ty KD lâm nghiệp thuộc quản lý nhà nước nên tìm một hướng KD khác hoặc tinh giảm biên chế, chính quyền tỉnh Lâm Đồng cân đối, thanh toán tiền cho các công ty, giữ lại toàn bộ diện tích rừng thông, không nên khai thác. Tôi sợ rằng các cán bộ được giao nhiệm vụ trực tiếp giám sát việc khai thác rừng thông ba lá lơi lỏng nhiệm vụ, dẫn đến việc những cánh rừng tự nhiên, có nhiều cây gỗ quý dịp này bị xâm lấn, chặt hạ không thương tiếc”. (!).

Anh Phạm Ngọc Hoài – nguyên giảng viên Trường Đại học Đà Lạt cũng băn khoăn: “Việc trồng rừng thâm canh vốn xảy ra nhiều vấn đề bất cập. Liệu rằng nhiều năm sau, nơi những cánh rừng bị chặt xuống, rừng thay thế có xanh tốt?. Chỉ sợ rằng diện tích rừng bị mất vì khai thác thì nhiều, nhưng diện tích rừng trồng lại không bù trừ được. Hậu quả là mưa lũ, hạn hán, người nông dân gánh chịu nhiều thiệt hại.

Nhiều ý kiến cho rằng, những cánh rừng thông ngút ngàn là biểu tượng của TP.Đà Lạt nói riêng, của tỉnh Lâm Đồng nói chung mỗi khi du khách đến với Đà Lạt. Mất thông, tỉnh Lâm Đồng mất đi vẻ đẹp, sự lôi cuốn với du khách, ảnh hưởng đến ngành du lịch, môi trường sinh thái...”

Chúng tôi đem những thắc mắc này trao đổi và được ông Võ Doanh Tuyên – Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng - cho biết: việc khai thác này không làm ảnh hưởng đến môi trường du lịch – sinh thái của tỉnh hay gây ra những tác động xấu đến môi trường, như nguy cơ lũ lụt, hạn hán như nhiều ý kiến thắc mắc, bởi đây không phải rừng đặc dụng, rừng tự nhiên... mà là rừng trồng sản xuất kinh doanh; chúng nằm rải rác ở những tiểu khu cách xa khu dân cư, cách xa TP.Đà Lạt.

Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng hiện có trên 532.634 ha rừng, trong đó diện tích rừng trồng sản xuất trên 56.198ha; rừng trồng sản xuất từ 25 tuổi trở nên (tính đến năm 2020) là trên 4.451 ha. Thông 3 lá có thời gian sinh trưởng và phát triển dài (trên 70 năm), thời kỳ tăng trưởng mạnh nhất trước 25 tuổi, qua thời gian sự tăng trưởng bắt đầu chựng lại. Do đó, để đảm bảo tính hiệu quả trong trồng rừng kinh tế, chu kỳ kinh doanh gỗ lớn đối với rừng trồng thông 3 lá trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng khoảng 25 năm là phù hợp nhất, cho hiệu quả cao nhất.

Việc khai thác rừng sản xuất này chỉ gây ảnh hưởng môi trường cục bộ tại khu vực khai thác. Công tác trồng lại rừng sẽ được tiến hành trong năm. “Công ty nào đã có giống thì khai thác, trồng ngay kiểu cuốn chiếu. Chưa có giống thì để mùa mưa sang năm. Chúng tôi giám sát, yêu cầu họ phải trồng vào mùa mưa để đảm bảo rừng tái tạo mọc tỷ lệ cao” – ông Tuyên cho cho biết.

Chiều 20-9-2017, trao đổi với PV báo CATP về việc dư luận lo ngại quyết định khai thác gần 750ha rừng thông 3 lá tại Lâm Đồng sẽ phát sinh nhiều hệ lụy nếu không được giám sát chặt chẽ, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng – Tiến sĩ Phạm S cho biết: “Dự án được lên kế hoạch triển khai thực hiện sau khi Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức rất nhiều buổi thảo luận; dựa trên các căn cứ pháp lý, cơ sở khoa học - kỹ thuật, vấn đề kinh tế, môi trường, hiệu quả khai thác rừng trồng thông 3 lá, khẳng định, đây là việc nên làm, dựa trên tình hình thực tế tại địa phương; tăng cao tỷ lệ kinh tế rừng. Cùng đó là vấn đề giải quyết việc làm cho hàng ngàn cán bộ, công nhân viên tại các công ty có chức năng, nhiệm vụ sản xuất, KD, chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh.

Tôi khẳng định, diện tích khai phá đều là rừng sản xuất, làm kinh tế, không phải rừng vùng ven TP.Đà Lạt; làm tới đâu trồng tới đó, đảm bảo độ phủ xanh của rừng. Việc quản lý rất kỹ, quy trách nhiệm cụ thể; bất cứ cá nhân, tổ chức nào sai phạm sẽ bị xử lý nghiêm”.

Tiến sĩ Phó Đức Đỉnh (SN 1944) – kỹ sư lâm nghiệp, nhà nghiên cứu lâm - nông học, nêu ý kiến: Đừng có nghe nói đến “phá rừng” là sợ. Cần phải có tư duy về quản lý, quy hoạch các loại rừng, để làm sao đảm bảo được các tiêu chí chủ yếu: tác dụng phòng hộ, cảnh quan môi trường; cung cấp nguyên liệu cho ngành kinh tế; giải quyết công ăn việc làm cho cư dân địa phương. Việc tỉnh Lâm Đồng lập dự án khai thác diện tích rừng kinh tế, đã có ý kiến ủng hộ từ 30 năm trước.

Về mặt kỹ thuật, đây là một quá trình tự nhiên của vòng đời một loài cây đặc thù (thông ba lá). Rừng thông là loại rừng thứ sinh. Ở độ tuổi 20 đến 25, cây bắt đầu chậm sinh trưởng nên việc khai thác rồi tái tạo mang lại lợi nhuận kinh tế là tư duy đúng đắn. Vấn đề là vai trò của cấp quản lý, quy hoạch; tránh phát sinh những việc tiêu cực, phức tạp. Khai thác không phải phá rừng. Cơ chế “mở cửa”, nhưng có lưới để lọc độc hại. Muốn làm gì thì làm, diện tích rừng phải tăng; trữ, sản lượng gỗ phải tăng; phải giải quyết việc làm cho người dân địa phương; giải quyết được nguyên liệu cho công nhiệp và các ngành khác. (Công An Thành Phố Hồ Chí Minh Online 20/9) Về đầu trang

Lào Cai: Nâng cao hiệu quả trồng rừng sản xuất

Lào Cai hiện có gần 340.000 ha rừng, trong đó hơn 85.000 ha rừng sản xuất (rừng kinh tế) với giá trị đạt trên 1.262 tỷ đồng/năm. Sản xuất lâm nghiệp nhiều năm qua đã đóng góp quan trọng trong cơ cấu ngành nông - lâm nghiệp, hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế của nhiều địa phương.

Khai thác xong gần 1 ha quế, gia đình ông Trần Quốc Bình, thôn Làng Chưng, xã Sơn Hà (Bảo Thắng) nhanh chóng thu dọn thực bì và đào hố theo đúng kỹ thuật. Hơn 3.000 cây quế giống đặt trước đã được chở đến tận nơi để trồng ngay cho kịp thời vụ. Việc gia đình ông Bình tự bỏ tiền đầu tư mua cây giống, phân bón để trồng rừng mà không trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước là sự thay đổi nhận thức hoàn toàn so với gần 10 năm trước.

Ông Bình cho biết: Năm 2008, sau nhiều lần chính quyền đến vận động, gia đình ông “miễn cưỡng” chuyển đổi 1,5 ha đất trồng sắn, ngô kém hiệu quả sang trồng cây quế. Sau 3 năm, cây quế bắt đầu cho nguồn thu từ tỉa lá, cành và đến nay đã thu hoạch toàn bộ, mang lại cho gia đình khoản thu lớn. So sánh hiệu quả kinh tế thì trồng quế cho thu nhập cao và nhàn hơn trồng ngô, sắn. Gia đình đã tự đầu tư tiền để tiếp tục trồng quế, đến nay toàn bộ diện tích đất của gia đình đã được phủ xanh bằng loại cây này.

Phong trào tự đầu tư trồng rừng tại xã Sơn Hà đang phát triển rất mạnh. Riêng trong năm 2017, toàn xã đã có 13 hộ dân tự đầu tư trồng rừng trên diện tích hơn 8 ha. Cây trồng chủ yếu là quế, bởi cây sinh trưởng, phát triển nhanh, giá bán khá cao, đầu ra ổn định. Ông Hoàng Mạnh Phúc, Chủ tịch UBND xã Sơn Hà cho biết: Từ vài năm trở lại đây, xã luôn về đích sớm và vượt kế hoạch trồng rừng. Nhờ giá trị kinh tế từ rừng mang lại lớn, thu nhập từ trồng rừng của xã đạt 80 - 150 triệu đồng/ha sau mỗi đợt khai thác, xã không còn phải đi vận động người dân trồng rừng.

Là địa phương có diện tích đất đồi núi lớn, chủ yếu là đồi núi dốc, nên Bảo Yên đã chọn hướng đi phù hợp là phát triển kinh tế rừng. Hiện, toàn huyện có gần 48.000 ha rừng, trong đó rừng sản xuất gần 20.000 ha, độ che phủ của rừng trên diện tích tự nhiên đạt 57%. Có được kết quả trên là do trong những năm gần đây, hiệu quả kinh tế, xã hội từ trồng rừng mang lại cao. Nhiều hộ dân đã trở thành triệu phú, tỷ phú từ trồng rừng. Người dân nhận thấy đây là sinh kế bền vững, giúp phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu, nên đã tự đầu tư trồng rừng. Nhiều năm liền, Bảo Yên đã vươn lên dẫn đầu toàn tỉnh về trồng rừng sản xuất. Riêng trong 8 tháng năm 2017, toàn huyện đã trồng mới được hơn 1.355 ha rừng, trong đó gần 100 ha do nhân dân tự đầu tư vốn.

Hiệu quả kinh tế, xã hội trong sản xuất lâm nghiệp là không thể phủ nhận, tuy nhiên, giá trị kinh tế của rừng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, năng suất rừng trồng bình quân trên địa bàn tỉnh hiện nay là 16 - 17 m3 gỗ/ha/năm. Nếu sản xuất với diện tích nhỏ thì việc trồng rừng mới đơn giản là “của để dành” chứ khó tạo ra đột phá trong phát triển kinh tế hộ.

Ông Vũ Hồng Điệp, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: Hiện, trồng rừng vẫn còn nặng tính phong trào, kỹ thuật trồng rừng, mật độ cây chưa được người trồng tuân thủ nghiêm ngặt. Việc đầu tư, chăm sóc rừng chưa được quan tâm, chủ yếu vẫn là trồng quảng canh, dựa hoàn toàn vào tự nhiên. Trong khi đó, ngân sách đầu tư cho lâm nghiệp hạn hẹp dần, hạ tầng giao thông tại nhiều điểm trồng rừng còn thiếu, ảnh hưởng đến việc vận chuyển cây giống, phân bón và chăm sóc. Ở khía cạnh rộng hơn, hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ sản xuất còn nhiều bất cập, các loại cây đang được trồng nhiều như bồ đề, keo, mỡ, xoan truyền thống chủ yếu làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản có giá trị kinh tế thấp.

Theo kế hoạch, tỉnh Lào Cai phấn đấu đến năm 2020 có trên 50% diện tích rừng trồng sản xuất được áp dụng các biện pháp thâm canh. Ngành lâm nghiệp sẽ tập trung cho công tác tuyên truyền, tiếp tục nghiên cứu, tuyển chọn những loại cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao, cây đa tác dụng, dễ tiêu thụ. Xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung khoảng 70.000 ha, các cơ sở chế biến tạo việc làm cho khoảng 20.000 lao động. Cùng với đó, ngành lâm nghiệp xây dựng các mô hình khuyến lâm, áp dụng kỹ thuật thâm canh, xen canh lâm nghiệp trước khi mở rộng ra nhiều địa bàn. (Baolaocai.vn 20/9) Về đầu trang

Lai Châu: Bảo vệ, gắn kết người dân với những cánh rừng

Tăng cường công tác phối hợp giữa BCĐ Tây Bắc và các địa phương trong vùng Những năm trở lại đây, nhờ làm tốt công tác khoanh nuôi, chăm sóc, tái sinh rừng, đời sống đồng bào các dân tộc tỉnh Lai Châu đã có nhiều đổi thay.

Từ các bản làng vùng thấp đến vùng núi cao tỉnh Lai Châu, đi đến đâu cũng bắt gặp màu xanh của rừng được bao phủ khắp núi đồi. Rừng được giữ và bảo vệ tốt, góp phần chống xói mòn, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cân bằng sinh thái, mang lại nhiều nguồn thu nhập cho người dân. Đồng bào nơi đây coi rừng như “món quà” quý báu trong việc giữ gìn môi trường sinh thái, điều hòa khí hậu, tăng thu nhập từ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. 

Ông Lê Trọng Quảng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết, các bản đều lập quy ước, hương ước để bảo vệ rừng, vì thế ý thức và trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng thôn bản được phát huy. Ngoài bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh, công tác trồng rừng mới được tỉnh Lai Châu chú trọng. Cũng nhờ giữ màu xanh hay gắn kết giữa người dân với những cánh rừng, thu nhập từ các lâm sản dưới tán rừng ngày càng cao, góp phần không nhỏ trong việc xóa đói giảm nghèo, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất cho người dân.

Tính đến hết tháng 6/2017, tỉnh Lai Châu có hơn 2.437 ha rừng đã chuyển mục đích sử dụng và các chủ đầu tư dự án cũng phải có trách nhiệm trồng rừng thay thế số diện tích này. Đến nay, tỉnh Lai Châu đã triển khai trồng trên 5.336 ha rừng (vượt gần 3.000 ha rừng đã chuyển mục đích sử dụng).

Theo ông Lê Trọng Quảng, tỉnh Lai Châu đã làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, giúp người dân tái cơ cấu nền nông nghiệp, có nhiều nguồn thu từ rừng. Các dự án trồng rừng được vận dụng theo thực tế của tỉnh, phù hợp với nguyện vọng của đồng bào dân tộc, nhằm gắn việc trồng rừng với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp thông qua việc hình thành các vùng tập trung với cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao.

Huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu có 49.173 ha rừng. Để làm tốt công tác khoanh nuôi, bảo vệ, tái sinh rừng, huyện đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn rà soát, thống kê diện tích rừng hiện có và giao khoán cộng đồng thôn bản quản lý. Đồng thời, huyện tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức, vai trò trách nhiệm các cấp, ngành và người dân trong quản lý, bảo vệ rừng; xác định đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Huyện đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng trọng tâm là chính sách hưởng lợi và trách nhiệm chủ rừng. Từ đầu năm 2017 đến nay, huyện đã trồng mới 83,62 ha rừng thay thế, 30 ha cây sơn tra theo Đề án phát triển cây sơn tra; thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng 41.844ha. Tổng số 15.306 hộ tham gia nhận khoán bảo vệ rừng trên địa bàn 182 thôn, bản và 23 nhóm, 41 hộ thuộc 18 xã, thị trấn.

Ông Nguyễn Thành Đô, Phó Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Phong Thổ cho biết, đơn vị thường xuyên phối hợp cơ quan chức năng trong tuyên truyền đặc biệt chú trọng vai trò cộng đồng bản trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng.

Bên cạnh đó, đơn vị hỗ trợ cộng đồng bản xây dựng quy ước bảo vệ rừng; phát động phong trào trồng cây, trồng rừng, xây dựng các mô hình kinh tế nông lâm kết hợp, gắn với các chương trình ổn định tổ chức sản xuất, xóa đói giảm nghèo; sử dụng tốt nguồn vốn theo chương trình dự án 30a, bảo vệ rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng giúp người dân hưởng lợi để bảo vệ rừng tốt hơn.

Là địa phương có diện tích rừng lớn nhất toàn huyện Phong Thổ, xã Sin Suối Hồ đã giao khoán 5.481ha rừng phòng hộ cho bà con các bản bảo vệ và chăm sóc. Theo hỗ trợ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và khoanh nuôi rừng tự nhiên Chương trình 30a, toàn xã hưởng lợi khoảng 4,6 tỷ đồng (năm 2017). Tức là khoản chi trả này sẽ được chia đều cho bà con có đóng góp trong quá trình, bảo vệ rừng. Đây cũng là lợi ích kinh tế không nhỏ bà con vùng cao.

Ông Giàng A Vư, Bí thư Đảng ủy xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ chia sẻ, để giữ rừng hưởng lợi, xã củng cố các tổ, đội xây dựng phương án bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng ở cơ sở. Đồng thời, xã thực hiện giao rừng, hỗ trợ người dân vùng cao trồng rừng nhằm góp phần bảo vệ rừng bền vững, hạn chế tình trạng xâm hại rừng trái phép; nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng và đề nghị chính đáng của người dân, gần gũi, bám sát địa bàn phát hiện, xử lý vấn đề phát sinh tại hiện trường, tạo mọi điều kiện bà con tham gia bảo vệ và phát triển rừng.

Từ thực tế, người dân không chỉ giữ màu xanh cho những cánh rừng mà còn tăng thêm thu nhập bền vững từ rừng. Ý thức của đồng bào dân tộc trong việc bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh rừng được nâng lên, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh Lai Châu. (TTXVN/Tin Tức Online 21/9) Về đầu trang

Quảng Bình: Giọt nước mắt những cánh rừng cao su

Hàng ngàn cây cao su bị gãy đổ, bật gốc sau bão số 10 đi qua khiến người dân tại thị trấn Nông Trường Việt Trung (Bố Trạch) rơi vào cảnh lao đao. Bởi cuộc sống mưu sinh của người dân nơi đây chỉ biết trông chờ vào từng gốc cao su.

Đến thị trấn Nông Trường Việt Trung những ngày sau bão, chúng tôi mới cảm nhận được sức tàn phá khủng khiếp của bão số 10 là như thế nào. Hàng ngàn cây cao su đang độ thu hoạch thi nhau đổ gục, nhiều cây to đùng cũng bật luôn cả gốc. Có những cây bị gió quật gãy đôi, chỉ còn lại thân cây trơ trọi giữa một đống hoang tàn, ngổn ngang. Chị Trần Thị Ánh Ngọc (35 tuổi, xóm 1, tiểu khu Quyết Tiến) ngậm ngùi trong đâu xót. Chị cho biết, nhà có hơn 3 héc ta rừng cao su đã 10 năm tuổi, đang trong thời kì thu hoạch, nhưng bão số 10 đi qua đã tàn phá 70 – 80% rừng cao su, gây ra thiêt hại rất lớn.“Mất hết rồi chú à, cả một cánh rừng cao su bỏ công chăm sóc 10 năm nay giờ bão nó quét sạch nhìn mà xót lòng chú ơi” – chị Ngọc nói trong nghẹn ngào. Cùng chung cảnh ngộ như chị Ngọc, ông Phùng Văn Minh (60 tuổi) ở tiểu khu 5 thị trấn Nông Trường Việt Trung có 5 hécta cao su cũng bị bão quật ngã gần hết. Ông cho biết, rừng cao su của mình đã cho thu hoạch 2 năm nay. Sau khi bão đi qua, ông đi kiểm tra thì hơn một nửa diện tích đã bị ngã đổ. Số cây còn chống đỡ được ông tiếp tục chăm sóc với hy vọng vớt vát được phần nào. Ông Phan Đình Hùng – Bí thư chi bộ tiểu khu Quyết Tiến cho biết: Trên địa bàn có khoảng 35 hộ trồng cao su với hơn 100 hécta. Hầu hết những cây cao su này đã được đưa vào thu hoạch. Nhưng cơn bão số 10 vừa qua đã tàn phá hơn 70 hécta cao su của bà con, con số thiệt hại lên đến hàng tỷ đồng.

Ngoài thiệt hại về cao su, ông Hùng cũng cho biết thêm: Nhiều ao hồ, diện tích cây ăn quả trên địa bàn cũng bị bão cuốn mất sạch. Hàng chục nhà dân bị tốc mái,có 1 nhà sập, rất nhiều gia súc gia cầm bị chết. Khó khăn chồng chất khó khăn đè lên đầu người dân.

Bão số 10 đã để lại hậu quả rất lớn cho những người dân tại thị trấn này, người mất ít thì cũng vài chục triệu, mất nhiều thì lên đến cả trăm triệu bạc. Nỗi lo cơm áo, gạo tiền hoàn toàn phụ thuộc vào cánh rừng cao su giờ coi như mất trắng. Số cây bị gãy, ngã cũng chỉ chặt đem về làm củi chứ chẳng thể làm gì hơn.

Ghi nhận của Phóng viên Môi trường và Đô thị Việt Nam điện tử: Năm 2013, một cơn bão mạnh quét qua khiền cho hàng ngàn hécta cao su tại thị trấn Nông Trường Việt Trung gãy rạp, nhiều hộ dân rơi vào cảnh trắng tay. Sau lần đó, một số hộ dân nơi đây bỏ hẳn cây cao su, đổi nghề khác để kiếm kế sinh nhai. Nhưng vẫn còn nhiều nông dân khác quyết định đánh canh bạc lớn, bắt tay làm lại từ đầu trên đống hoang tàn ấy.

Thế nhưng sự nghiệt ngã của thiên nhiên lại một lần nữa trút giận lên đôi vai những con người đã từng khốn khổ này. Vừa qua, cơn bão số 10 với sức gió khủng khiếp gịât cấp 14, 15 quét qua khúc ruột miền trung để lại một đống hoang tàn trên đường đi của nó. Tại thị trấn Nông trường Việt Trung, hàng trăm hécta cao su đang trong thời kì khai thác đã bị bão quật ngã không thương tiếc, đẩy nhiều nông dân lâm vào cảnh trắng tay. (Moitruongvadothi.vn 20/9; Mientrung.vanhien.vn 20/9) Về đầu trang

Quảng Bình: Xứ núi… khóc rừng!

Bão số 10 càn quét qua địa bàn Tuyên Hoá đã xoá sổ nhiều cánh rừng kinh tế, phá tan giấc mộng đổi đời của hàng ngàn hộ dân dày công gây dựng bấy lâu nay…

Chúng tôi đến Ngư Hoá, là một trong những địa phương có tổng diện tích rừng trồng kinh tế dẫn đầu huyện Tuyên Hoá.

Từ chân cầu Minh Cầm của xã Mai Hoá, men theo con đường liên xã chạy dọc sông Rào Trổ uốn lượn quanh những ngọn núi trùng điệp để vào với xã Ngư Hoá, chúng tôi không khỏi xót lòng khi tận mắt chứng kiến những cánh rừng hai bên đường và bên kia sông bị bão quật gãy ngang, đổ xếp chồng lên nhau.

Dọc đường đi, chốc chốc lại bắt gặp một vài người dân cầm rựa đứng thẫn thờ bên khu rừng đổ nát với cặp mắt ướt đỏ như đang khóc, trách hờn với ông trời…

Ngôi nhà anh Thái Văn Thế, thôn 3, xã Ngư Hoá nằm ở lưng chừng núi, mặt ngoảnh lên phía đỉnh. Là cư dân xã miền núi, sống dựa vào rừng nhưng cái đói, cái nghèo cứ đeo bám dai dẳng. Chừng chục năm về trước, khi lấy vợ ra riêng, may mắn được tiếp cận với cung cách làm ăn mới, anh Thế mạnh dạn tiến lên ngọn núi trước mặt nhà khai hoang được khoảng 13ha đất để trồng rừng kinh tế.

Cũng chính nhờ trồng rừng, cuộc sống, bữa ăn hàng ngày của gia đình ngày một sung túc hơn, đủ tiền để nộp học cho các con, thậm chí đã có của ăn, của để.

Chỉ tay vào một vạt rừng keo lai, mỗi thân cây to hơn cái phích nước đã bị gãy sạp gần như hoàn toàn, anh Thế nghẹn giọng kể: “Cách đây chừng 1 tháng, thương lái đến trả mua hơn 2ha keo này với giá 170 triệu đồng nhưng tui không bán, định để thêm vài tháng xem có ai trả cao hơn. Rứa mà chừ nó như thế này đây. Có riêng vạt rừng này mô, mấy vạt rừng khác của gia đình với hơn 10ha, đã trên 3 năm tuổi ở phía đỉnh núi cũng bị bão số 10 quật gãy tan tác, thiệt hại gần như hoàn toàn. Nhà ở thì bị bão làm tốc mái. Rứa là dự định sang năm bán toàn bộ rừng keo để làm nhà mới của vợ chồng tui đã… tan theo bão rồi.

Năm 2013, bão cũng đánh tan gần như toàn bộ rừng keo của gia đình. Sau đó, vợ chồng tui quyết định vay mượn ngân hàng để trồng mới lại rừng keo này. Nợ ngân hàng chưa trả hết, chừ lại như ri đây, quá khổ… Mấy hôm nay hai vợ chồng loay hoay dọn nhà sau bão, đi ra đi vào nhưng mặt cứ cúi gằm, không muốn nhìn lên đỉnh núi phía trước mặt. Vì mỗi lần nhìn lên đó nước mắt lại cứ trào ra, lòng quặn thắt…”.

Đồng cảnh ngộ với anh Thế là hộ anh Nguyễn Hữu Nam ở thôn 3 xã Ngư Hoá có trên 7ha cây keo lai bị bão số 10 quật gãy gần như hoàn toàn.

Anh Nam tâm sự: “Tui vừa mới xây được ngôi nhà trị giá khoảng 700 triệu đồng, trong đó nợ bà con và ngân hàng xấp xỉ 50%. Dự tính hai năm tới sẽ bán cây keo để trả nợ, rứa mà… Vài năm tới nếu không được ngân hàng khoanh nợ thì chắc họ lấy mất nhà. Rừng gãy đổ nhiều nhưng không thấy thương lái nào tới hỏi mua. Thông thường, thương lái chỉ mua nguyên cây tươi để dễ bóc vỏ.

Sau bão đến chừ đã mấy ngày rồi, trời nắng gắt khiến cho cây gãy giờ đã héo khô, khó bóc vỏ thì ai mua cho. Đường vào nơi khai thác thì khó khăn gấp bội, nếu thương lái mua thì họ chọn nơi thuận lợi chứ không ai lại lên vùng cao hẻo lánh này. Tình hình này chắc dân làng tui phải đốn keo, tràm làm củi đun, mà có đun thì làm sao cho hết cả khối lượng khổng lồ như ri…”.

Chủ tịch xã Ngư Hoá Nguyễn Thanh Phong chua chát nói: Bão số 10 đã khiến 126 nhà dân ở Ngư Hoá bị tốc mái, 1 nhà bị xiêu vẹo và 3 nhà sập. Bão còn làm mất điện, hệ thống thông tin liên lạc bị cắt đứt, trụ sở 2 tầng của UBND xã bị tốc mái, 3 phòng làm việc của các đoàn thể tại xã bị “xoá sổ”, 7 phòng học của Trường Mầm non cùng Trường TH và THCS của xã Ngư Hoá tốc mái hoàn toàn…

Nghiêm trọng nhất, bão đã làm khoảng 1.000ha/ khoảng 1.300ha rừng trồng kinh tế của người dân bị gãy đổ. Trong đó, tỷ lệ rừng gãy đổ trên 70% chiếm chừng 500ha, số còn lại thiệt hại từ 30-50%. Tại vùng cao Ngư Hoá, hầu như nhà nào cũng có rừng trồng kinh tế, hầu hết mỗi hộ đều có từ 5ha trở lên. Rừng đang là nguồn sống, triển vọng đổi đời của người dân, thế mà sau trận bão này, tất cả đều trắng tay…

Rời xã Ngư Hoá, chúng tôi sang xã Cao Quảng, là một trong số những địa phương có diện tích rừng trồng kinh tế lớn của huyện Tuyên Hoá.

Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Cao Quảng Mai Xuân Tuyên rầu rĩ cho biết: “Thế mạnh của địa phương chúng tôi là dựa vào kinh tế rừng. Rừng trồng kinh tế những năm gần đây đã mang lại rất nhiều khởi sắc cho địa phương. Các chú xem, nhà cửa nhân dân được kiên cố, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, hộ khấm khá ngày một nhiều lên, đường bê tông liên thôn đạt trên 70%, cơ sở hạ tầng của địa bàn ngày một khang trang…, tất cả cũng nhờ nhiều vào kinh tế rừng. Cơn bão số 10 năm 2013 cũng đã gây ra thiệt hại rất lớn về rừng trồng cho người dân chúng tôi.

Sau bão, bằng mọi nỗ lực, người dân nơi đây vừa phục hồi và trồng mới được một số diện tích, thì cơn bão này tiếp tục lấy đi gần như tất cả công sức, mồ hôi và tiền của của người dân. Toàn xã có khoảng 1.600ha rừng kinh tế thì có tới 1.460ha gãy đổ, thiệt hại khoảng 60 tỷ đồng. Vậy là các chương trình, mục tiêu giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới của xã bị kéo lùi, không chỉ trong 1, 2 năm mà còn rất nhiều năm tới, bởi muốn thu được hiệu quả kinh tế từ trồng rừng chí ít cũng mất chừng 5 năm trở lên…”.

Tổng hợp thiệt hại của huyện Tuyên Hoá tính đến 17 giờ ngày 18-9 cho biết, tổng diện tích rừng trồng kinh tế như keo, tràm, cao su… bị gãy, đổ do bão số 10 là hơn 9.000ha/ gần 11.000ha.

Trước những thiệt hại nặng nề về lĩnh vực lâm nghiệp, trao đổi với chúng tôi, ông Lê Nam Giang, Chủ tịch UBND huyện Tuyên Hóa cho biết: Thời điểm này, Tuyên Hoá đang tập trung chỉ đạo các đơn vị chế biến nguyên liệu gỗ rừng trồng đóng ở địa bàn tích thu mua cho bà con.

Ngoài ra, địa phương cũng tích cực vận động các nhà máy dăm gỗ trong và ngoài tỉnh quan tâm thu mua gỗ cho người dân. Cái khó hiện tại là trên địa bàn vẫn chưa có điện nên nhà máy chưa thể hoạt động được. Về sinh kế lâu dài, huyện chủ trương vận động, chỉ đạo nhân dân chuyển dần sang trồng các cây gỗ lớn để giảm bớt thiệt hai do bão. Tuy nhiên, vấn đề này dự kiến sẽ gặp nhiều khó khăn do người dân Tuyên Hóa đa số mức sống còn nghèo nên việc đầu tư lâu dài là điều rất khó… (Tinquangbinh.com 20/9) Về đầu trang

Tây Ninh: Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng có quy hoạch trồng cao su, cây ăn trái

Người dân xã Tân Thành (huyện Tân Châu) phản ánh, từ khi thực hiện Quyết định 875 của UBND tỉnh đến nay, hầu hết diện tích đất rừng nằm trong quy định của quyết định này đã được trồng rừng.          

Tuy nhiên, hiện có khoảng 10 ha đất không được trồng rừng mà trồng cao su (cụ thể ở tiểu khu 54, ấp Tân Đông, xã Tân Thành).

Diện tích đất trồng cao su trên của ông Lữ Trung Lành (trước đây là Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng). Người dân kiến nghị ngành chức năng kiểm tra làm rõ vấn đề này.

Vừa qua, ngành chức năng đã kiểm tra, rà soát trường hợp trên. Theo đó, giai đoạn 2006­-2010, ở khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng có quy hoạch diện tích trồng cây cao su, cây ăn trái là 1.848 ha (tại Quyết định số 17/2007/QĐ-UBND ngày 6.8.2007 của UBND tỉnh).

Do đó, trong Dự án bảo vệ và phát triển rừng khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng giai đoạn 2011-2020 (đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1108/QĐ-UBND ngày 13.6.2013), vẫn giữ diện tích trồng cây cao su theo như quy hoạch trước đó.

Kết quả kiểm tra cho thấy, khu đất trồng cao su của ông Lữ Trung Lành theo như người dân phản ánh thuộc tờ bản đồ số 3, thửa 140, khoảnh 10, tiểu khu 54, có diện tích 9,4 ha thuộc quy hoạch đất nông nghiệp (đất trồng cây cao su) trong quy hoạch lâm nghiệp do Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng quản lý. Như vậy, việc ông Lành trồng cao su như hiện nay là không sai. (Baotayninh.vn 20/9) Về đầu trang

Gia Lai: Cần đẩy nhanh tiến độ trồng rừng đảm bảo kế hoạch năm 2017

Theo UBND tỉnh, tính đến hết tháng 8/2017, các địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã trồng được 3.252 ha rừng, đạt 42,6% kế hoạch, trong đó trồng rừng phòng hộ trên 240 ha, trồng rừng sản xuất trên 2.200 ha, trồng rừng từ nguồn vốn dịch vụ môi trường rừng 141 ha, trồng cây phân tán gần 639 ha.

Để đảm bảo hoàn thành kế hoạch trồng trên 7.000 ha rừng trong năm 2017, UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT tăng cường phối hợp với các ngành, địa phương chủ động kêu gọi các doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình tham gia trồng rừng sản xuất, kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc. Đồng thời tăng cường công tác thu hồi đất rừng bị lấn chiếm, làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vụ vi phạm. UBND tỉnh cũng yêu cầu Sở, ngành liên quan và các địa phương cần khẩn trương xây dựng kế hoạch trồng rừng năm 2018 ngay trong tháng 9/2017. (Gialaitv.vn 21/9) Về đầu trang

Kon Tum: Bảo vệ nguồn mạch sự sống

Kon Plông là địa phương có nhiều rừng. Ý thức được rừng là nguồn mạch của sự sống, trong những năm qua, nhiều cá nhân, cộng đồng và đơn vị được nhà nước giao quản lý bảo vệ rừng đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo vệ và phát triển rừng.

Từ UBND xã Hiếu (huyện Kon Plông) phóng tầm mắt về hướng bên kia Quốc lộ 24, chúng ta nhận thấy rừng của cộng đồng thôn Vi Chring xếp lớp theo thế đất.

Ngẩng mặt về nơi con gà rừng đang gáy, già làng Đinh Văn Lôi trầm tư: Dân làng Vi Chring từ bao đời nay gắn bó với rừng. Rừng cho người dân con chuột, con chim, cái nấm, cây măng để ăn, cây gỗ làm nhà; cho nguồn nước uống và giữ nước để sản xuất… Rừng là mạch nguồn, là sự sống. Được nhà nước giao đất giao rừng và hưởng lợi từ Dự án bảo vệ tổng quan các hệ sinh thái rừng cho cộng đồng dân cư vùng Tây Nguyên và Nam Trung bộ, người dân Vi Chring rất quý rừng, không ai dám phá rừng.

Thật vậy, ngay sau nhà già làng Đinh Văn Lôi là rừng. Mặc dù thôn Vi Chring ở ngay triền dốc, gần Quốc lộ 24 nhưng nhiều hộ vẫn đào được ao nuôi cá và vẫn có nguồn nước sạch đảm bảo cung cấp cho 47 hộ dân trong làng.

A Triệu - Thôn trưởng Vi Chring khẳng định, cộng đồng thôn được huyện giao 808ha rừng. Thực hiện Dự án bảo vệ tổng quan các hệ sinh thái rừng, từ nhiều năm nay, các tổ trong cộng đồng thôn Vi Chring thay phiên nhau tuần tra bảo vệ rừng, do vậy rừng được bảo toàn không bị mất.

Bảo vệ tốt tài nguyên rừng, Dự án hỗ trợ cho Quỹ phát triển cộng đồng thôn Vi Chring 1,4 tỷ đồng. Mới đây, thôn rút trên 60 triệu đồng, chia cho mỗi hộ 1,24 triệu đồng, còn lại 7 triệu đồng thôn giữ làm quỹ để chi cho những người tuần tra bảo vệ rừng.

“Các hộ nhận tiền bảo vệ rừng từ Dự án đã mua bột ngọt, dầu ăn, mắm, muối… Đồng tiền từ Dự án góp phần giúp các hộ cải thiện đời sống” - A Triệu bộc bạch.

Theo ông Phan Thế Vinh - Phó Chủ tịch UBND xã Hiếu, để góp phần bảo vệ tốt diện tích rừng, không tính cộng đồng tuần tra bảo vệ rừng, từ đầu năm đến nay, xã tổ chức 7 đợt tuần tra, truy quét vào vùng rừng các thôn Kon Plông, Kon Pling, Kon Piêng và dọc Quốc lộ 24. Qua tuần tra, xã phát hiện và kịp thời ngăn chặn một số vụ phá rừng làm nương rẫy trái phép.

Ông Vinh cũng đánh giá cao Dự án bảo vệ tổng quan các hệ sinh thái rừng trong việc hỗ trợ người dân thôn Vi Chring, thôn Đăk Lom và Đăk Liêu trong việc bảo vệ rừng. Tham gia thực hiện Dự án, các thôn trên đều bảo vệ tốt tài nguyên rừng. Tuy nhiên, hiện nay, thôn Đăk Lom, Đăk Liêu chỉ tham gia bảo vệ rừng chứ chưa được địa phương giao đất giao rừng như thôn Vi Chring.

Gắn bó với người dân và chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ rừng, ông Lê Đình Khương - cán bộ kiểm lâm địa bàn xã Hiếu quả quyết, rừng giao cho cộng đồng hay hộ gia đình ở địa phương đều được bảo vệ tốt. Tài nguyên rừng từng bước hồi sinh. Người dân có thêm thu nhập từ việc thực hiện các chính sách bảo vệ rừng.

Ở rừng tự nhiên thuộc sự quản lý của Trạm Quản lý bảo vệ rừng số 2, 3 (Ban Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Thạch Nham), chúng tôi luồn sâu trong rừng nhưng không thấy có dấu hiệu rừng bị xâm hại.

Bùi Trọng Tài - cán bộ phụ trách Trạm Quản lý bảo vệ rừng số 3 tự hào: Xác định rõ nhiệm vụ được giao và các “điểm nóng”, Trạm phối hợp với UBND xã Ngọc Tem, Măng Cành, xã Hiếu thường xuyên tổ chức tuần tra, truy quét và vận động người dân tham gia bảo vệ rừng. Vì vậy, tài nguyên rừng ở đây không bị xâm hại.

Ông Phan Quốc Vũ - Phó ban Quản lý bảo vệ rừng Thạch Nham cho biết, Ban được tỉnh giao quản lý bảo vệ trên 29.000ha rừng, trong đó giao khoán cho 1.278 hộ quản lý bảo vệ trên 26.000ha rừng gần khu dân cư. Tăng cường giao khoán rừng cho dân và đẩy mạnh tuần tra, truy quét, từ nhiều năm nay, Ban Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Thạch Nham không để xảy ra mất rừng.  

Phát huy những nhân tố tích cực trong công tác quản lý bảo vệ rừng, nhiều cá nhân, cộng đồng và chủ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông bảo vệ tốt nguồn mạch của sự sống. (Baokontum.com.vn 20/9) Về đầu trang

Thực trạng tranh chấp, xâm lấn đất rừng và giải pháp tháo gỡ. Bài 3: Làm thế nào để giải quyết xung đột về đất, rừng

Có một thực tế đang diễn ra là trong tổng số diện tích đất, rừng mà nhà nước giao cho các công ty lâm nghiệp và BQL rừng phòng hộ quản lý, sử dụng nhưng một phần trong số đó đã bị người dân ngang nhiên chiếm dụng để trồng rừng thu lại lợi ích kinh tế cho cá nhân. Trong khi diện tích đất đó, hàng năm các đơn vị này phải nộp thuế đất cho nhà nước. Dĩ nhiên phần thiệt thòi thuộc về các chủ rừng được nhà nước giao nhiệm vụ quản lý, sử dụng.

Vậy nhưng người dân cứ “được thế” lấn tới, không dừng lại ở mức chiếm dụng mà còn đòi quyền sử dụng đất. Đỉnh điểm là vụ việc 38 hộ dân ở xã Cam Thành (Cam Lộ) đồng loạt gửi đơn kêu cứu đến ngành chức năng về chủ trương thu hồi đất của Công ty Lâm nghiệp Đường 9 trước khi tiến hành cổ phần hóa. Họ cho rằng đây là đất do họ khai hoang, phục hóa từ nhiều năm nay. Trong quá trình canh tác không xảy ra tranh chấp nhưng đột nhiên Công ty Lâm nghiệp Đường 9 ra thông báo thu hồi đất.

Trước yêu cầu này, Công ty Lâm nghiệp Đường 9 đã phối hợp với UBND huyện Cam Lộ tổ chức đối thoại với dân. Ông Nguyễn Hồng Thái, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Đường 9 cho biết: “Trước hết phải khẳng định quyền sử dụng đất là thuộc về đơn vị. Vì tất cả diện tích từ 30.000 ha ban đầu cho đến hơn 7.000 ha hiện tại của đơn vị đều đã được nhà nước cấp quyền sử dụng đất, được phân lô, cắm mốc, phân định ranh giới hẳn hoi. Việc người dân cho rằng đơn vị buông lỏng quản lý (không nhắc nhở hay gây áp lực) trong quá trình người dân canh tác trên đất, cần phải thừa nhận một thực tế rằng hầu hết diện tích đất mà người dân xâm lấn đều là đất “đầu thừa, đuôi thẹo” nằm lọt thỏm dưới khe suối hay ở địa bàn hiểm trở mà công ty chưa tổ chức trồng rừng. Mặt khác với một lực lượng bảo vệ mỏng thì làm sao đủ sức quản lý hết. Trong quá trình người dân trồng rừng, bảo vệ chúng tôi đã phát hiện, nhiều lần nhắc nhở người dân trồng rừng và quan tâm bảo vệ rừng, ngăn chặn nạn đốt rừng có thể xảy ra, chứ chẳng lẽ công ty lại cho phép bảo vệ đi “gây hấn” với dân? Hiện nay, để thuận lợi cho việc triển khai cổ phần hóa, công ty đã rà soát lại quỹ đất và lập phương án sử dụng đất, trong đó dành lại một phần diện tích để chuyển giao cho các địa phương quản lý sử dụng. Đối với diện tích đất, rừng mà người dân đang xâm lấn, công ty đã có chủ trương vận động nhân dân thu hoạch hết diện tích rừng sau đó trả lại đất cho công ty. Riêng với diện tích rừng chưa đến tuổi khai thác thì yêu cầu người dân có cam kết với đơn vị trong một vài năm tới sau khi thu hoạch rừng thì tự nguyện trả lại đất. Ngoài ra chúng tôi còn tạo mọi điều kiện về phương tiện, đường sá để người dân khai thác cây rừng một cách thuận lợi nhất”.

Rõ ràng trong mối xung đột này, người dân đang ở thế “tình ngay, lý gian”. Hiển nhiên rừng cây đang là tài sản của cá nhân họ nhưng đất đai thuộc sở hữu của nhà nước mà các công ty lâm nghiệp chỉ được trao quyền sử dụng đất nên về nguyên tắc người dân không thể đòi quyền sử dụng đất. Thực tế này cứ xem như một giao dịch dân sự thông thường là người dân mượn đất nhà nước để sản xuất và phải có trách nhiệm trả lại đất khi cần. Cho dù trong chủ trương của tỉnh, sau khi cổ phần hóa các công ty lâm nghiệp chủ động giao lại một phần diện tích đất cho địa phương quản lý, sử dụng, nghĩa là người dân vẫn có cơ hội được cấp quyền sử dụng đất nhưng với tâm lý sợ mất đất nên họ cứ kêu cứu.

Còn đối với công ty, một khi công ty cổ phần hóa, tức là bán cổ phần rộng rãi ra bên ngoài liệu công nhân có đủ năng lực tài chính để mua cổ phần để tiếp tục “làm chủ” đất hay bị loại ra khỏi nơi mà họ đã gắn bó suốt bao thế hệ. Do vậy, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ công nhân trong việc mua lại cổ phần để được quyền sử dụng và gắn bó với đất rừng, gắn bó với công ty. Để tiến trình cổ phần hóa các công ty lâm nghiệp được diễn ra một cách thuận lợi và đạt kết quả cần phải giải quyết ổn thỏa nhiều mối quan hệ chồng chéo, ràng buộc khác nhau liên quan đến luật pháp. Tuy nhiên vấn đề trước mắt là giải quyết mối xung đột giữa các công ty lâm nghiệp với người dân ở các địa phương.

Thực tế cho thấy mối xung đột này vẫn có cách giải quyết như kinh nghiệm từ Công ty Lâm nghiệp Bến Hải. Trong buổi làm việc chúng tôi gần đây nhất, anh Hoàng Ngọc Thành, Chủ tịch HĐTV công ty có nêu lên thực trạng xâm lấn đất của người dân. Đó là phần đất giáp ranh giữa đất công ty và đất địa phương đã được cắm mốc phân định tại địa bàn các xã Vĩnh Hà, Vĩnh Khê, Vĩnh Chấp hay diện tích đất nằm ở ranh giới giữa các xã này với các xã Thái Thủy, Sen Thủy (Quảng Bình) với tổng diện tích thống kê sơ bộ khoảng 70 ha. Có trường hợp đất rừng là của công ty nhưng chính quyền địa phương ở Quảng Bình đã cấp quyền sử dụng đất cho dân trồng rừng.

Trước tình trạng đó, đơn vị đã phối hợp với chính quyền huyện, tỉnh Quảng Bình để cùng nhau tháo gỡ. Riêng đối với tình trạng xâm lấn đất trồng rừng, công ty đã tiến hành kiểm kê, rà soát chi tiết, khoanh lô, khoanh vùng bị xâm lấn sau đó họp bàn với dân đi đến thỏa thuận bằng văn bản là cho dân mượn đất để trồng rừng. Công ty đứng ra hỗ trợ về mặt kỹ thuật, bảo vệ vòng ngoài và tiến hành bao tiêu, thu mua sản phẩm cho người dân. Trong quan hệ hợp tác này có sự “ăn chia” hợp lý là toàn bộ giá trị rừng bán ra người dân được hưởng 80%, công ty hưởng 20% để bù vào thuế đất phải nộp và lương công nhân bảo vệ.

Kinh nghiệm cho thấy muốn giữ được rừng, hạn chế tình trạng đốt rừng thì phải giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên. Đối với người dân địa phương, công ty tạo mọi điều kiện thuận lợi về an sinh xã hội, tạo thu nhập ổn định để người dân yên tâm với nghề rừng. Với lực lượng bảo vệ 35 người thì không thể quản lý hết trên 8.600 ha rừng, do đó công ty đã hợp tác với dân, ký kết lao động với dân để huy động thêm khoảng 500 lao động thường xuyên có mặt ở trong rừng. Một khi tài sản cá nhân “xen canh” với tài sản nhà nước thì người dân có trách nhiệm bảo vệ chung.

Vì thế đã có không ít người dân trước đây chỉ làm một công việc phá rừng, đốt rừng nay đã tự nguyện xin hợp đồng cạo nhựa thông hay mượn đất để trồng rừng ổn định cuộc sống. Cách làm này của Công ty Lâm nghiệp Bến Hải thiết nghĩ cần được nhân rộng ra các đơn vị khác nhằm giải quyết thỏa đáng mối xung đột về đất, rừng lâm nghiệp như hiện nay.

Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Đức Dũng, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh khẳng định: “Hiện nay công tác quản lý, sử dụng đất đai vẫn còn xảy ra một số sai sót cần được chấn chỉnh. Trước hết, việc giao đất cho tổ chức, cá nhân không phải doanh nghiệp trồng rừng đã hết thời kỳ, chu kỳ sản xuất nhưng chưa bàn giao đất cho các địa phương quản lý mà vẫn tiếp tục trồng rừng. Một số công ty lâm nghiệp và các BQL rừng phòng hộ chưa làm tốt công tác rà soát thực địa, quy chủ đất đai, đánh giá cụ thể hiệu quả sử dụng đất và diện tích đất cho thuê hoặc liên kết sai quy định pháp luật. Bên cạnh đó, công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai ở một số địa phương còn thiếu chặt chẽ, còn để xảy ra tình trạng tranh chấp, xâm lấn đất rừng. Một số địa phương chưa làm tốt việc cắm mốc, rà soát, bóc tách những diện tích bị chồng lấn, điều chỉnh ranh giới sử dụng đất. Do đó, trong thời gian tới, đề nghị các đơn vị, doanh nghiệp cần bám sát nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh để có phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu thực tiễn đề ra. Đồng thời, các công ty lâm nghiệp cần đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa theo hướng gắn việc cổ phần hóa với đời sống, quyền và lợi ích của cán bộ, nhân viên, người lao động và người dân trên địa bàn. Mặt khác, các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, rà soát hiện trạng quỹ đất và nhu cầu của người dân để xem xét, thu hồi, bàn giao một số diện tích cho các địa phương để cấp cho những hộ thật sự thiếu đất sản xuất. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thực trạng quản lý, sử dụng đất tại các địa phương. Kiên quyết thu hồi những diện tích đất đang bị xâm lấn, chiếm dụng bất hợp pháp. Bóc tách, làm rõ quyền sử dụng đất đối với từng tổ chức, cá nhân đang quản lý, sử dụng đất rừng. Mặt khác cần tăng cường công tác tuyên tuyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, xử lý nghiêm các trường hợp khai thác rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép. Từ đó mới giải quyết được mối xung đột giữa người dân địa phương và các chủ rừng, chấn chỉnh lại công tác quản lý, sử dụng và khai thác đất, rừng hiện nay”. (Baoquangtri.vn 20/9) Về đầu trang

Đưa giống tốt vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, giá trị kinh tế rừng

Với tiềm năng lớn về đất, khí hậu, kinh tế rừng đang ngày càng được khẳng định và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của tỉnh. Nhưng theo thống kê, đánh giá của ngành chuyên môn, giai đoạn 2011 – 2014 sản xuất lâm nghiệp chỉ đạt bình quân 565 tỷ đồng/năm, năng suất rừng trồng đạt 40 - 50m3/ha. Đây là những con số khá khiêm tốn so với những tiềm năng, lợi thế mà ngành này có được. Đưa giống tốt vào sản xuất là một trong những giải pháp đã và đang được thực hiện nhằm nâng cao năng suất, giá trị kinh tế rừng.

Tỉnh ta có 685.201,7 ha đất dốc từ 150 trở lên, chiếm 86,6% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó 566.723,4 ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp, là tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế từ rừng. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2011- 2014, ngân sách nhà nước đầu tư cho sản xuất lâm nghiệp chỉ đạt 72,9 tỷ đồng/năm, giá trị sản xuất lâm nghiệp trung bình đạt 565 tỷ đồng/năm, đóng góp của lâm nghiệp vào GDP toàn tỉnh xấp xỉ 3,07%. Trong khi đó, giá trị sản xuất của trồng trọt trung bình 4.400 tỷ/năm, chăn nuôi gần 1.600 tỷ/năm. Như vậy giá trị sản xuất lâm nghiệp còn rất thấp so với các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp, trong khi có tiềm năng, lợi thế lớn hơn rất nhiều.

Một trong những nguyên nhân khiến giá trị kinh tế rừng đạt thấp, là do sự đầu tư thấp, cụ thể: Trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: 15 triệu đồng/ha/4 năm; trồng rừng sản xuất hỗ trợ gần 2,6 - 4,84 triệu đồng/ha; trồng cây phân tán hỗ trợ 1,5 - 2,25 triệu đồng/ha; cùng với đó là chưa tuân thủ quy trình kỹ thuật, chưa áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh; bỏ qua hoặc thiếu quan tâm đến khâu chăm sóc và nuôi dưỡng rừng; nguồn giống không đảm bảo... Do đó, giai đoạn 2011 – 2014, tỷ lệ sống của rừng trồng sau nghiệm thu rất thấp, chỉ đạt trên 54% đối với rừng phòng hộ và từ 62 - 80% với rừng sản xuất. Năng suất của rừng trồng rất thấp, đối với Keo tai tượng chỉ đạt 40 - 50 m3/chu kỳ 7 năm, bình quân là 6 - 7 m3/ha/năm; Mỡ và Quế cũng có năng suất thấp, trong khi chu kỳ thu hoạch lại dài (20 năm)...

Trước thực trạng trên, nhằm thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 – 2020; Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2020...  tỉnh ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm khuyến khích người dân trồng rừng và lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng, nâng cao giá trị kinh tế rừng, đưa kinh tế rừng trở thành “trụ đỡ” cho sự phát triển kinh tế của tỉnh. Cuối năm 2016, Sở Nông nghiệp và PTNT đã xây dựng Kế hoạch đột phá ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2016 -2020 là “Đưa giống tốt vào sản xuất lâm nghiệp”, nhằm chuyển đổi bộ giống cây lâm nghiệp trồng rừng sản xuất có năng suất cao tăng từ 20 - 30% trở lên; phấn đấu đạt một số mục tiêu của Đề án Định hướng phát triển Lâm nghiệp tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được ban hành tháng 6.2016 như: Đến năm 2020, năng suất rừng trồng (chu kỳ 7 năm) từ 40 – 50m3/ha (năm 2015) tăng lên 60 – 70m3/ha; tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng từ bình quân 565 tỷ đồng/năm (giai đoạn 2011-2014) lên 1.080 tỷ đồng; tỷ lệ thành rừng của rừng trồng từ dưới 70% lên trên 85%; thu hút ngân sách nhà nước đầu tư cho lâm nghiệp từ 200 – 230 tỷ đồng...

Để đưa giống tốt vào sản xuất đại trà, người dân yên tâm sử dụng các loại giống chất lượng, nâng cao năng suất gỗ và giá trị kinh tế trên một diện tích rừng trồng, từ cuối năm 2015 đến cuối năm 2016, Sở Nông nghiệp và PTNT đã hỗ trợ và vận động xã hội hóa thực hiện 2 mô hình trồng rừng bằng giống chất lượng cao với tổng diện tích 10ha. Đồng thời tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương toàn bộ diện tích rừng trồng có hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách nhà nước đều phải sử dụng giống tốt, có nguồn gốc xuất sứ rõ ràng, được các cơ quan chuyên môn kiểm tra, nghiệm thu đánh giá trước khi trồng. Qua đó, năm 2016 toàn tỉnh đã trồng được 1.422ha rừng bằng giống tốt.

Đến thăm mô hình trồng Keo tai tượng hạt Úc nhập nội tại thôn Nậm Mái, xã Kim Ngọc (Bắc Quang), đây là mô hình trồng rừng bằng giống chất lượng cao do Sở Nông nghiệp và PTNT hỗ trợ 3 gia đình thực hiện trên diện tích 3ha. Anh Nguyễn Văn Thái, một trong 3 hộ tham gia mô hình cho biết: So với trước đây, giống keo hạt Úc này lớn nhanh hơn. Cây đã trồng được 2 năm, trung bình chiều cao đạt 4 – 5m, đường kính thân cây 5- 7cm, có những cây đã cao 7-8m, đường kính đạt 10 -12cm. Loại keo này phát triển lõi nhanh nên đến kỳ khai thác chắc chắn sẽ năng suất hơn loại cây giống thông thường.

Theo thông tin từ Chi cục Lâm nghiệp – Sở Nông nghiệp và PTNT cho biết: Năng suất và giá trị gỗ trên một đơn vị diện tích phụ thuộc lớn vào giống cây và cách chăm sóc, thâm canh. Vì vậy, hiện nay chủ trương của ngành là chú trọng song song 2 khâu này. Nhưng riêng đối với khâu giống, để đảm bảo tỷ lệ giống tốt khi đưa vào sản xuất, tỉnh đã phân cấp ủy quyền nghiệm thu và cấp giấy chứng nhận lô cây con tại các huyện vùng động lực, để các huyện chủ động trong việc kiểm tra, kiểm soát cây giống được sản xuất tại địa bàn quản lý. Ngoài ra, việc đưa giống tốt vào sản xuất cùng với quan tâm thâm canh rừng, sẽ giúp các hộ dễ được cấp chứng chỉ rừng tiêu chuẩn FSC, có chứng chỉ này, giá trị gỗ sau khai thác sẽ bán được giá cao hơn từ 10 – 15%.

Được biết, xã Kim Ngọc (Bắc Quang) hầu hết diện tích rừng sản xuất của người dân và Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo phần lớn sử dụng giống Keo lai nuôi cấy mô (một trong những giống tốt đang được nhân rộng vào trồng rừng sản xuất), cho năng suất trung bình trên dưới 80m3/chu kỳ 7-8 năm; năm 2016, huyện Vị Xuyên đã trồng 76 ha giống Keo tai tượng hạt Úc nhập nội và 5ha mô hình keo lai nuôi cấy mô... Qua đó có thể thấy, người dân và cấp ủy, chính quyền các địa phương đã và đang quan tâm tới việc sử dụng giống tốt vào trồng rừng để nâng cao năng suất, giá trị rừng trồng. (Baohagiang.vn 20/9) Về đầu trang

Thành lập 67 tổ xung kích chữa cháy rừng ở các xã trọng điểm

Thực hiện phương án, kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng vào mùa khô năm 2017, UBND huyện Lục Nam (Bắc Giang) đã thành lập Ban chỉ đạo bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) huyện, tổng số có 22 thành viên do Phó Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban.

Theo đó, các xã và chủ rừng cũng đã kiện toàn và thành lập được 18 Ban chỉ huy PCCCR ở cơ sở, gồm 362 thành viên; các chủ tịch UBND xã, giám đốc công ty lâm nghiệp làm trưởng ban chỉ huy.

Các xã có rừng còn thành lập 67 tổ xung kích chữa cháy rừng gồm 668 thành viên. Thành phần tham gia tổ xung kích chủ yếu là đoàn thanh niên, công an viên, dân quân tự vệ và hội cựu chiến binh cơ sở. Mặt khác, ký 14 hợp đồng phát tin tuyên truyền, cảnh báo cháy rừng năm 2017 và 14 hợp đồng bảo vệ rừng và phòng cháy rừng năm 2017 tại 14 xã trọng điểm cháy trên địa bàn huyện gồm: Tam Dị, Tiên Nha, Đông Hưng, Đông Phú, Bảo Sơn, Cẩm Lý, Bắc Lũng, Huyền Sơn, Nghĩa Phương, Vô Tranh, Trường Sơn, Lục Sơn, Bình Sơn, Trường Giang.

Đặc biệt, ngày 16-8-2017, UBND huyện đã tổ chức ký quy chế phối hợp công tác PCCCR giữa UBND huyện và 04 đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn, gồm: Lữ đoàn 164, Lữ đoàn 203, Sư đoàn 306 - Quân đoàn 2 và Kho K91-Quân Khu 3. (Baobacgiang.com.vn 20/9) Về đầu trang

Khoa học giải mã thành công cấu trúc bí ẩn 3.000 năm tuổi trong rừng rậm Amazon

Cách đây hàng ngàn năm, người cổ đại sống trong rừng rậm Amazon đã đào đường hào trên mặt đất thành những hình thù mang tính chất hình học, như: hình tròn, hình vuông, hình elip và hình lục giác. Đường hào rộng 11m, sâu 4m, đường kính từ 100 đến 300m.

Một số khu vực có đến 6 hình thù. Các hình thù ở phía tây Amazon đối chọi với những ví dụ ấn tượng nhất của kiến trúc Tiền Columbia hiện diện khắp châu Mỹ.

Theo trường nghiên cứu của trường ĐH Helsinki, Phần Lan, những hình thù trừu tượng này do người dân bản xứ tạo ra cách đây 1.000 – 3.000 năm để thờ cúng.

Các chuyên gia viết trong tài liệu nghiên cứu rằng: “Hơn 450 đường hào hình Tiền Columbia (năm 1492 trước CN) nằm trên diện tích rộng 13.000km2 thuộc bang Acre, Brazil”.

“Đây là phát hiện quan trọng về kiến trúc Amazon. Những công trình bằng đất đá khổng lồ này được rừng nhiệt đới che giấu trong nhiều thế kỷ, thách thức trực tiếp tình trạng “nguyên sơ” của hệ sinh thái và nhận thức về tính dễ tổn thương do tác động của con người.”

Cho đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện ra khoảng 500 hình thù ở Acre. Những đường hào hình thù bí ẩn sâu vài mét và rộng hàng trăm mét vuông.

Tuy nhiên, các chuyên gia vẫn chưa thể giải thích rõ những đường hào hình học này được tạo ra làm gì, ai đã tạo ra chúng.

Cuộc nghiên cứu hợp tác giữa trường ĐH Helsinki (Phần Lan) và trường ĐH São Paulo (Brazil) đã cân nhắc đến những yếu tố tín ngưỡng, truyền thuyết địa phương thời kỳ Tiền Columbia.

Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra rằng những đường hào bí ẩn này là không gian nghi lễ quan trọng. Qua đó, người dân bản địa Amazon giao tiếp với tổ tiên và các động vật, các thiên thể vũ trụ.

Người cổ đại bản địa không phân biệt giữa chính họ và tự nhiên. Những hình dạng huyền bí này đã giúp họ nhớ rằng cuộc sống con người không thể tách rời với môi trường và với các thế hệ trước.

Các nhà khoa học đã giải thích các dạng hình học này mô phỏng theo đặc điểm và họa tiết da động vật mà người bản địa Amazon cũng đưa vào đồ sành sứ, vải dệt, trang sức và tranh vẽ hiện đại.

Các giả thuyết về nghệ thuật thị giác Amerindian cũng cho thấy, các mô hình hình học thể hiện những phẩm chất và khả năng mà con người mong muốn, như: khả năng sinh sản, sức đề kháng, kiến thức và quyền lực.

Theo các chuyên gia, bằng chứng về những hình thù này dành cho nghi lễ là dựa vào thực tế trong đó không có vật liệu mang yếu tố văn hóa.

Như vậy, cho thấy chúng được giữ theo nghi thức “sạch”, cùng với các hình thức kiến trúc được hình thức hóa cao (chủ yếu là hình tròn và hình vuông) – là những đường hào tạo hình tương tự ở phía đông bắc Bolivia.

Hơn nữa, các chuyên gia chỉ ra trong nghiên cứu làm thế nào người xưa xây được đường hào và họ đã sống ở đâu, như thế nào khi chưa thấy bằng chứng về những nơi đó là khu dân cư đương đại trong khu vực.

Người ta nghĩ rằng những người xây dựng đường hào là một mạng lưới phức tạp gồm các nhóm người địa phương tự trị có chung một hệ tư tưởng được chia sẻ và phát triển cao.

Người dân bản địa đương đại của bang Acre vẫn tiếp tục bảo vệ di tích thiêng liêng này. Họ không giống cư dân khác trong khu vực, tránh sử dụng chúng vào các hoạt động trần tục, như: xây dựng nhà cửa hay làm nông nghiệp. (Vietkhampha.com 20/9) Về đầu trang

Cuộc sống của khủng long đến nay nếu không tuyệt chủng

Các nhà khoa học không loại trừ khả năng khủng long có thể tiến hóa thành loài thông minh giống con người.

66 triệu năm trước, một thiên thạch đường kính 15 km đâm xuống Trái Đất với sức mạnh tương đương 10 tỷ quả bom nguyên tử ở Hiroshima. Vụ va chạm hủy diệt mọi thứ trong bán kính hàng trăm kilomet, tạo ra những đợt sóng thần dữ dội và khiến 75% sinh vật trên Trái Đất khi đó tuyệt chủng.

Các nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra giả thuyết, nếu vụ va chạm không xảy ra hoặc xảy ra với sức hủy diệt nhỏ hơn thì đến nay khủng long sẽ tiến hóa và sinh sống như thế nào.

Nhóm các nhà khoa học, trong đó có nhà địa chất Sean Gulick đến từ Đại học Texas, nghiên cứu về sự kiện thiên thạch đâm xuống Trái Đất. Họ kết luận, nếu rơi sớm hoặc muộn hơn một chút thì thiên thạch sẽ đâm xuống Thái Bình Dương hoặc Đại Tây Dương thay vì bán đảo Yucatan, Mexico.

Việc rơi xuống biển sâu làm giảm sức mạnh của vụ va chạm và hạn chế lượng bụi lưu huỳnh bắn lên tầng khí quyển. Khi đó, ánh sáng mặt trời chiếu xuống Trái Đất sẽ không bị lớp tro bụi dày ngăn cản và nhiều loài khủng long có thể vẫn tồn tại.

"Khủng long vẫn sẽ tuyệt chủng do khí hậu trở nên lạnh hơn", Mike Benton, nhà cổ sinh vật tại Đại học Bristol nêu ý kiến. Theo ông, động vật có vú vẫn sẽ thay thế khủng long thống trị Trái Đất.

Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học khác cho rằng khủng long sẽ thích nghi và tồn tại. "Khủng long vẫn thích nghi rất tốt vào cuối kỷ Phấn trắng", nhà nghiên cứu Stephen Brusatte tại Đại học Edinburgh cho biết.

Biến đổi khí hậu có thể là trở ngại đầu tiên mà khủng long phải vượt qua để tiếp tục tồn tại. Sự kiện Trái Đất ấm lên cách đây 55 triệu năm từng khiến nhiệt độ trung bình cao hơn ngày nay 8 độ C, rừng mưa nhiệt đới che phủ phần lớn diện tích đất liền.

Trong điều kiện khí hậu nóng và thực vật dồi dào, có thể loài khủng long chân thằn lằn với chiếc cổ dài sẽ phát triển nhanh hơn, sinh sản sớm hơn và thu nhỏ kích thước. Người ta đã tìm ra dấu vết của khủng long chân thằn lằn nhỏ ở những hòn đảo thuộc châu Âu cuối kỷ Phấn trắng.

Một xu hướng nữa cuối kỷ Phấn trắng là các loài cây có hoa hay cây hạt kín bắt đầu phát triển. Trong suốt kỷ Jura, phần lớn thực vật là dương xỉ và các cây hạt trần ít dinh dưỡng hơn. Có thể loài khủng long chân thằn lằn có kích thước lớn như vậy để tiêu hóa những loài cây này một cách hiệu quả.

Khủng long ăn cỏ có thể chuyển sang ăn những loại cây có hoa là chính, Matt Bonnan, nhà cổ sinh vật tại Đại học Stockton nhận định. "Vì thực vật có hoa dễ tiêu hóa hơn nên các loài khủng long ăn cỏ sẽ dần thu nhỏ kích thước cơ thể", ông giải thích.

Cùng với thực vật có hoa là sự xuất hiện của các loại quả, chim và động vật có vú ăn quả giúp cây phân tán hạt giống. "Nhiều loài chim sống nhờ ăn hoa quả. Vì vậy, có thể một số loài khủng long cũng tiến hóa thành động vật ăn quả", Bonnan cho biết.

Một số loài khủng long lông vũ nhỏ có thể tiến hóa thành các loài tương tự linh trưởng. Nhiều loài khác có thể uống mật hoa và giúp hoa thụ phấn, Brusatte bổ sung.

Một sự kiện quan trọng khác xảy ra khoảng 34 triệu năm trước là Nam Mỹ và Nam Cực chia tách, băng ở Nam Cực hình thành, Trái Đất trở nên khô và lạnh hơn. Các đồng cỏ bắt đầu xuất hiện và trải rộng khắp nơi.

"Động vật có vú ăn cỏ với chân mảnh và chạy nhanh dần trở nên phổ biến, vì ở những bãi cỏ rộng sẽ không có nơi để ẩn nấp", Holtz cho biết. Đây là lúc thú móng guốc và kẻ thù của chúng bắt đầu phát triển mạnh.

Khủng long ba sừng hoặc khủng long hông chim có thể tiến hóa thành các loài ăn cỏ và chạy nhanh, theo Darren Naish, nhà cổ sinh vật chuyên nghiên cứu động vật có xương sống. "Khủng long khi đó đã sở hữu nhiều lợi thế tiến hóa mà động vật có vú phải trải qua một thời gian dài mới đạt được", ông nói thêm.

Nhờ vậy, khủng long sẽ thích nghi tốt với các bãi cỏ rộng lớn. Khủng long cũng có tầm nhìn tốt hơn động vật có vú và nhạy bén hơn trong việc phát hiện nguy hiểm.

Khủng long cũng sẽ phải đối mặt với những kỷ Băng hà diễn ra cách đây 2,6 triệu năm. "Có thể ở những nơi lạnh hơn, bạn sẽ thấy các loài khủng long da dày với một lớp lông phủ kín từ đầu đến chân", Naish nhận định.

Các nhà khoa học cũng thử dự đoán số phận của các loài chim và động vật có vú nếu khủng long trên cạn, thằn lằn bay trên trời, thằn lằn cá và thương long dưới biển vẫn tồn tại.

Cuối kỷ Phấn trắng đã có rất nhiều loài chim tồn tại. Có lẽ điều này gây cản trở sự đa dạng loài ở thằn lằn bay, Holtz nhận xét. Ông dự đoán một trong những loài thằn lằn bay tiếp tục phát triển là azhdarchid với sải cánh dài 12 m.

Sự tồn tại của khủng long sẽ ảnh hưởng lớn đến động vật có vú. Động vật có vú đã tồn tại khoảng 160 triệu năm trước vụ va chạm thiên thạch. Chúng đa dạng nhưng chỉ là các loài vật nhỏ bé. Khi thiên thạch đâm xuống khiến khủng long tuyệt chủng, động vật có vú mới bắt đầu bùng nổ, theo Brusatte.

Một số ý kiến khác cho rằng các loài có vú lớn sẽ khó tồn tại, nhưng dơi, loài gặm nhấm, động vật ăn thịt nhỏ, linh trưởng và chồn túi sẽ trở nên phổ biến. Naish tin rằng linh trưởng vẫn sẽ xuất hiện, thậm chí có thể tiến hóa thành loài tương tự như người. Tuy nhiên, khi đó con người sẽ phải tìm cách chung sống và đối phó với những loài vật khổng lồ đầy nguy hiểm.

Năm 1982, nhà nghiên cứu Dale Russell tại Bảo tàng Tự nhiên Canada đưa ra giả thuyết khủng long tiến hóa thành loài có trí tuệ. Theo đó, loài khủng long ăn thịt Troodon với bộ não cực lớn có thể là tổ tiên của những loài khủng long thông minh. Ông cũng tạo hình ảnh mô phỏng nếu khủng long tiến hóa thành loài vật thông minh giống con người.

Holtz cho rằng khủng long có thể có não bộ phức tạp và phát triển khả năng giải quyết vấn đề, nhưng sẽ không tiến hóa thành hình dạng giống con người. "Quá trình con người tiến hóa rất đặc biệt, bao gồm hành vi đu cây và nhiều thứ khác", Holtz giải thích.

Theo các nhà khoa học, nếu vượt qua các biến cố lớn trong lịch sử Trái Đất, có thể khủng long sẽ tiến hóa và tồn tại đến ngày nay. Tuy nhiên, con người từng săn voi ma mút và nhiều loài động vật lớn khác đến mức tuyệt chủng. Sự bùng nổ dân số và kỹ thuật săn bắn của con người chắc chắn cũng sẽ tiêu diệt rất nhiều loài khủng long.

Nếu khủng long còn tồn tại đến nay, có lẽ một số loài ăn cỏ lớn, thậm chí những loài ăn thịt tương tự khủng long bạo chúa sẽ được bảo vệ trong các khu bảo tồn thiên nhiên hoặc công viên quốc gia đủ rộng. Một vài loài khủng long nhỏ sẽ thích nghi với môi trường thành thị và sống cùng con người như bồ câu, chuột hay mòng biển. (Phununews.vn 20/9) Về đầu trang