Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 14/9/2017

Điểm báo ngày 14/9/2017

Cập nhật ngày : 14/09/2017 9:58:34 SA

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 14 tháng 9 năm 2017)

Chuyện giữ rừng nơi phên dậu chiến lược

Giữa mênh mông đồi núi dọc theo quốc lộ 27, từ điểm đầu tiếp giáp huyện Lâm Hà đến điểm cuối tiếp giáp huyện Lắc (Đác Lắc), là trục giao thông huyết mạch của huyện Đam Rông. Bên cạnh những nỗ lực tháo gỡ khó khăn về vấn đề di cư tự do, huyện “30a” đặc biệt khó khăn duy nhất của tỉnh Lâm Đồng đang nỗ lực tìm hướng phát triển kinh tế rừng và sản xuất nông nghiệp.

Huyện Đam Rông nằm trên cao nguyên Lâm Viên, phía bắc tỉnh Lâm Đồng, có diện tích tự nhiên hơn 860 km2 với tám đơn vị hành chính cấp xã và 56 thôn, trong đó, bảy trong số tám xã thuộc diện khu vực III và 38 thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn theo Quyết định 1049 của Thủ tướng Chính phủ. Phó Chủ tịch UBND huyện Đam Rông Trần Đức Tâm cho biết: Huyện có gần 12 nghìn hộ, hơn 47 nghìn nhân khẩu. Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 74,4% số dân toàn huyện. Đam Rông là cửa ngõ nối Lâm Đồng với các tỉnh Tây Nguyên, được đánh giá là khu vực trọng yếu của tỉnh nói riêng và khu vực nam Tây Nguyên nói chung. Điều này dẫn đến việc nhiều người dân từ các huyện khác, tỉnh khác, trong đó có dân di cư tự do từ các tỉnh phía bắc vào.

Qua rà soát, đến nay tổng số dân di cư tự do là hơn 1.000 hộ, gần 5.200 người. Từ nhiều nguồn lực tổng hợp của địa phương, đến nay mới chỉ bố trí ổn định cuộc sống được 244 hộ, 922 nhân khẩu, thông qua việc triển khai hai dự án ổn định dân di cư tự do thôn 5, xã Rô Men; dự án sắp xếp ổn định dân di cư tự do (DCTD) tại xã Phi Liêng. Còn lại 507 hộ, 2.732 nhân khẩu chưa được bố trí, sắp xếp ổn định cuộc sống. Trong đó, số dân DCTD đến xã Liêng Srônh cần được sắp xếp ổn định 2.475 khẩu thuộc 452 hộ. Lãnh đạo huyện Đam Rông cho biết thêm, địa bàn các hộ dân DCTD đến sinh sống là những nơi giao thông đi lại hết sức khó khăn, như tiểu khu 181, Tây Sơn, 179, 178, 182, 18. Thành phần chủ yếu của dân DCTD là dân tộc Mông, Dao từ các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Điện Biên... tập trung di cư về đây.

Với các địa phương, công tác phát triển và bảo vệ rừng (BVR) trong bối cảnh diễn ra tình trạng DCTD là mối lo ngại và thách thức lớn. Đồng chí Trần Đức Tâm cho biết thêm, các hộ dân DCTD thường cư trú trong các khu rừng phòng hộ, giao thông đi lại khó khăn, biệt lập với bên ngoài, các hộ dân sống theo nhóm. Nhà ở thường tập trung trong một khu vực ven chân đồi, núi, gần sông suối và được dựng bằng gỗ khai thác trực tiếp từ rừng. Cuộc sống của các đối tượng này không ổn định, không có đất ở, đất sản xuất, dẫn đến tự ý chặt phá rừng, tranh chấp đất với người dân địa phương.

Tính đến nay, số dân DCTD chưa được bố trí, sắp xếp định canh, định cư trên địa bàn huyện còn 1.918 nhân khẩu, 357 hộ đang sống rải rác trong rừng, nhất là tại các tiểu khu thuộc xã Liêng Srônh gây khó khăn trong công tác quản lý BVR. Thậm chí xảy ra chuyện xây dựng, cơi nới cơ sở thờ tự, tôn giáo trái phép, các loại tội phạm mới, nạn trộm cắp, ma túy gia tăng...

Đam Rông đang tính toán thực hiện hai dự án quy hoạch khu mới, xây dựng khu tái định cư cho người Mông. Còn một bộ phận dân DCTD đang ở trong rừng, huyện sẽ quản lý chặt, không cho tiếp tục phá rừng, xem xét tạm thời để người dân sản xuất canh tác trên diện tích đã lấn chiếm trước năm 2015. Điều đáng quan tâm trước mắt là huy động nguồn lực thực hiện dự án định cư cho dân DCTD, đồng thời kiến nghị T.Ư, bộ, ngành, các địa phương có người DCTD cần triển khai các biện pháp ngăn ngừa hiệu quả. “Nếu không, đây là một áp lực rất lớn, quá sức đối với huyện nghèo “30a” ở Tây Nguyên”, lãnh đạo huyện Đam Rông trăn trở.

Công tác quản lý dân DCTD hết sức phức tạp, do hầu hết các hộ sống trong rừng, giao thông đi lại khó khăn gây trở ngại cho công tác vận động, tuyên truyền. Quỹ đất chuyển đổi mục đích sang đất nông nghiệp để khai hoang bố trí cho người dân tại các dự án sắp xếp dân cư ít, không bảo đảm hoặc nơi có quỹ đất thì không thuận lợi cho canh tác (do địa hình có độ dốc lớn, lập địa xấu, giao thông không thuận tiện...). Nguồn vốn phân bổ cho các dự án bố trí dân cư thường chậm, ít và dàn trải, dẫn đến các dự án thường kéo dài, cơ sở hạ tầng đầu tư thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến tính hiệu quả của các dự án. “Các dự án bố trí dân cư thường phát sinh dân DCTD. Người dân đi theo dòng họ, người thân gây khó khăn cho công tác quản lý, bố trí sắp xếp dân DCTD”, Phó Chủ tịch UBND huyện Đam Rông Trần Đức Tâm cho biết. Từ thực tiễn ở huyện “30a” Đam Rông, một trong những vướng mắc cơ bản trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống, đó là ở nhiều nơi, chưa xác định rõ đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp. Vấn đề đặt ra là cần sớm sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, pháp luật để có chế định rõ ràng, qua đó đơn vị chủ rừng quản lý hiệu quả.

Chung quanh câu chuyện BVR tại cộng đồng, nhiều cán bộ cơ sở cho rằng, luật về quản lý và BVR phải đi vào cuộc sống. Mỗi dân tộc ở mỗi địa phương có một phong tục riêng. Luật sửa đổi, bổ sung cần được xem xét thấu đáo từ các cấp cơ sở, được hình thành trên cơ sở các phong tục văn minh ở các địa phương thì sẽ dễ được chấp nhận. Việc giao rừng cho cộng đồng, nhóm hộ, kết hợp quản lý thông qua tập tục, quy ước tại các bon, làng sẽ mang lại hiệu quả hơn.theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2016-2017, cả nước có 48 tỉnh, thành phố đã triển khai dạy học môn Tiếng Việt lớp 1-Công nghệ giáo dục với 7.857 trường và 693.0478 học sinh tham gia.

Những đơn vị triển khai đạt kết quả tốt: Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên, Nam Định, Thừa Thiên - Huế, Cần Thơ, Vĩnh Long, Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đồng Tháp, Long An,…

Tuy nhiên theo Bộ, việc triển khai dạy học theo Tài liệu Tiếng Việt lớp 1-Công nghệ giáo dục ở một số địa phương còn bất cập, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện, nhất là đối với giáo viên lớn tuổi, không đáp ứng kịp thời những thay đổi về phương pháp, kĩ thuật dạy học; một số bài học thiết kế chưa phù hợp với thời lượng dạy học ở lớp đầu cấp; một số ngữ liệu chưa phù hợp với tâm sinh lí học sinh lớp 1.

Để khắc phục tình trạng trên, Bộ đã giao cho Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tiến hành khảo sát, đánh giá kết quả đạt được cũng như những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai để có hướng chỉ đạo trong thời gian tới. (Nhân Dân Online 13/9) Về đầu trang

Góp ý 2 dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ, phát triển rừng và Luật Thủy sản

Chiều 12 – 9, Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bùi Xuân Thống đã chủ trì hhội nghị tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) và Luật Thủy sản (sửa đổi) dự kiến sẽ thông qua tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIV.

Đối với dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng (gồm 12 chương, 111 điều), các đại biểu tập trung góp ý về phân loại rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng; bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng; làm rõ về vấn đề sở hữu, quản lý rừng, nhất là về mặt kinh tế...

Trong đó, theo các đại biểu, việc quy định với quy mô tập trung từ 5 ngàn hécta rừng trở lên thành lập Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ là chưa hợp lý; cần xác định rõ địa vị và hành lang pháp lý, cơ chế chính sách cụ thể bảo vệ lợi ích chính đáng cho người dân làm nghề rừng...

Riêng về dự thảo sửa đổi Luật Thủy sản (gồm 9 chương, 110 điều), theo các đại biểu, việc chọn phương án Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản cần có ở cấp tỉnh; nên bổ sung thêm thêm chính sách hỗ trợ cho cả vùng mặt nước nội địa, chứ không dành riêng cho tổ chức sản suất, khai thác thủy sản trên biển có liên kết. Ngoài ra, các đại biểu đề nghị dự thảo luật cần nêu rõ hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý và trách nhiệm của cộng đồng trong khai thác thủy sản...

Các ý kiến đóng góp đã được Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai tiếp thu, tổng hợp trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội. (Daodongnai.com.vn 13/9) Về đầu trang

Góp ý dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi), Luật Thủy sản (sửa đổi)

Được sự hỗ trợ của Tổng cục Môi trường, ngày 13.9, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý kiến về dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi), Luật Thủy sản (sửa đổi).

Tại hội thảo, các đại biểu thảo luận, làm rõ mối quan hệ giữa Luật Thủy sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, phù hợp với Hiến pháp. Theo đó, trong quá trình xây dựng dự án Luật Thủy sản (sửa đổi), dự án Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) không chồng chéo, mâu thuẫn với các luật khác, trong đó có Luật Đa dạng sinh học.

Trong trường hợp có sự khác nhau giữa dự thảo Luật Thủy sản (sửa đổi), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) với Luật Đa dạng sinh học mà dẫn tới sự mâu thuẫn, chồng chéo thì phải luận giải cụ thể, bảo đảm tính khách quan và khoa học. Đồng thời, phải có điều khoản để quy định điều, khoản, điểm cụ thể của Luật Đa dạng sinh học sẽ được thay thế bằng các quy định của Luật Thủy sản và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng để loại bỏ sự mâu thuẫn, chồng chéo này.

Từ đó cho thấy, khi xây dựng luật, cần đặt trong mối quan hệ tổng thể chung với các luật khác, đặc biệt là đặt trong mối quan hệ với các luật cùng điều chỉnh một vấn đề. Như vậy, Luật Đa dạng sinh học, Luật Thủy sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng có mối quan hệ hữu cơ, trong một thể thống nhất. Trong đó, Luật Đa dạng sinh học đã quy định những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc về quản lý đa dạng sinh học, hay nói cụ thể là quản lý, bảo tồn và phát triển động vật, thực vật. Đây là vấn đề chung của cả 3 luật, do vậy, cần bảo đảm sự thống nhất khi xây dựng luật.

Góp ý với dự thảo Luật Thủy sản (sửa đổi), đại diện Vụ Pháp chế - Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, đối với loài nguy cấp quý hiếm Khoản 5, Điều 13 quy định danh mục, chế độ quản lý, bảo vệ, trình tự cấp phép khai thác loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm. Đề nghị bỏ quy định này nhằm tránh việc chồng chéo quá nhiều các danh mục liên quan đến bảo tồn các loài nguy cấp. Vì theo quy định của Luật Đa dạng sinh học, Chính phủ đã ban hành danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nhằm hệ thống các danh mục và tập trung chủ yếu cho vấn đề bảo tồn các loài nguy cấp có nguy cơ tuyệt chủng (Nghị định 160/2013/NĐ-CP). Nếu 2 luật đều quy định việc này thì sẽ dẫn đến chồng chéo. Do đó, cần thiết phải thống nhất để cập nhật vào cùng danh mục theo quy định của Luật Đa dạng sinh học. (Đại Biểu Nhân Dân 14/9, tr2; Đại Biểu Nhân Dân Online 13/9) Về đầu trang

Đánh giá hiện trạng rừng: Nhiều diện tích rừng đột ngột bị "khai tử"

Liên quan tới các sai phạm trong quản lý, sử dụng đất, rừng của Hợp tác xã Hợp Tiến ở xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông, mà VietnamPlus đã thông tin, cơ quan chức năng tỉnh Đắk Nông xác định, việc đánh giá hiện trạng rừng của các đơn vị tư vấn chưa phù hợp với thực tế và hơn 100ha đất có rừng đã bị đánh giá là… không có rừng.

Ngày 3/2/2016, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông ban hành quyết định số 204/QĐ-UBND về việc thu hồi đất, rừng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Quảng Sơn; đồng thời cho Hợp tác xã Hợp Tiến thuê để thực hiện dự án quản lý, bảo vệ rừng và đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp theo mô hình kinh tế tập thể.

Theo quyết định của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông, tổng diện tích đất Hợp tác xã Hợp Tiến được cho thuê là 1.215ha; trong đó đất có rừng là 645ha, đất không có rừng là 570ha (chiếm tới gần 47%).

Đáng chú ý hơn, trong số 570ha đất được xác định là không có rừng, có tới 293ha là đất trống có cây gỗ tái sinh, phần còn lại là đất nương rẫy bị bỏ hoang, đất sình lầy, đất trống không có cây gỗ tái sinh…

Đến tháng 3/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Nông phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành thu hồi và bàn giao đất cho Hợp tác xã Hợp Tiến.

Thời điểm này, cơ quan chức năng xác định hiện trạng đất, rừng của dự án có nhiều biến động so với bản đồ kèm quyết định số 204 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đoàn quyết định bàn giao và yêu cầu Hợp tác xã Hợp Tiến đánh giá lại hiện trạng đất, rừng và báo cáo cơ quan chức năng theo quy định.

Cuối tháng 3/2016, Hợp tác xã Hợp Tiến ký hợp đồng với Trung tâm Quy hoạch khảo sát thiết kế nông lâm nghiệp Đắk Nông về việc “rà soát lại diện tích, chất lượng đối với diện tích rừng tự nhiên trong khu vực dự án Hợp tác xã Hợp Tiến.”

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Nông: Kết quả hiện trạng rừng và đất do Trung tâm quy hoạch khảo sát thiết kế nông lâm nghiệp Đắk Nông thực hiện (công bố tháng 5/2016) cho thấy diện tích đất có rừng chỉ là 527ha, trong đó rừng xanh trung bình chỉ là 337ha, rừng xanh nghèo là 160ha, còn lại là rừng hỗn giao.

Diện tích đất không có rừng lên đến gần 688ha, tăng hơn 118ha so với Quyết định số 204 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông. Kết quả này sau đó đã được Hợp tác xã Hợp Tiến báo cáo lên các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Nông.

Tuy nhiên, trong quá trình thanh tra dự án của Hợp tác xã Hợp Tiến vào tháng Tám vừa qua, Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Nông nhận thấy nhiều diện tích trên thực địa là rừng nhưng trong bản đồ xác minh hiện trạng lại thể hiện là đất nương rẫy.

Điều này có nghĩa là nhiều diện tích rừng đã bị “khai tử.” Kết quả thẩm định sau đó của Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Nông xác định diện tích đất có rừng nhưng đơn vị tư vấn lại thể hiện là không có rừng lên đến hơn 100ha.

Theo tìm hiểu của phóng viên, việc phúc tra và rà soát hiện trạng rừng, đất rừng tại lâm phần được giao cho Hợp tác xã Hợp Tiến thuê đất đã được hai đơn vị thực hiện, bao gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tân Địa Cầu, có trụ sở tại thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, thực hiện lần đầu vào tháng 10/2013 và Trung tâm Quy hoạch khảo sát thiết kế nông lâm nghiệp Đắk Nông thực hiện lần hai vào tháng 5/2016.

Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Nông xác định số liệu rà soát của hai đơn vị đều chưa đúng với thực tế.

Cụ thể, tổng diện tích đất có rừng nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tân Địa Cầu lại xác định không có rừng là hơn 116ha, con số này của Trung tâm quy hoạch khảo sát thiết kế nông lâm nghiệp Đắk Nông là hơn 121ha (!?).

Ông Nguyễn Văn Hoàn, Giám đốc Trung tâm Quy hoạch khảo sát thiết kế nông lâm nghiệp Đắk Nông lý giải rằng đơn vị tiến hành việc phúc tra nhằm mục đích áp giá cho thuê đất rừng.

Hợp đồng giữa đơn vị với Hợp tác xã Hợp Tiến chỉ là rà soát, đánh giá lại diện tích, chất lượng phần đất còn rừng tự nhiên (645ha) trong khu vực dự án của Hợp tác xã chứ không phải toàn bộ diện tích (1.215ha).

Ông Hoàn cũng khẳng định những phần đất có rừng trong dự án nhưng nằm ngoài diện tích 645ha và đã được quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp thì đơn vị cũng không đánh giá.

Việc đánh giá cũng mang tính kế thừa kết quả đã được Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tân Địa Cầu thực hiện trước đó gần ba năm.

Trả lời phóng viên qua thư điện tử, ông Đoàn Văn Kiên, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Tân Địa Cầu cho rằng, sở dĩ có sự chênh lệch (116ha đất có rừng bị xác định là không có rừng) là do vào thời điểm Công ty đánh giá (từ tháng 7-10/2013) khu vực này chủ yếu là “thảm thực bì với các loại cây ưa sáng, mọc nhanh và rải rác một số cây gỗ lớn nhưng mật độ thưa thớt chưa đủ đánh giá thành rừng” và “sau bốn năm khu vực trên đã thành rừng do diễn tiến sinh thái.”

Bên cạnh đó, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tân Địa Cầu cho rằng thời điểm đơn vị đánh giá là “mùa mưa, nhiều diện tích bị ngập nước, có gỗ lớn cũng không đo đếm được trữ lượng nên đã bóc tách thành trạng thái sình (tức là đất không có rừng).”

Liên quan đến vấn đề này, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông kiến nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông chỉ đạo các cơ quan chức năng lập hồ sơ xử lý trách nhiệm theo quy định đối với việc đánh giá sai hiện trạng rừng của các đơn vị tư vấn.

Theo thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Nông, các sai phạm trong đánh giá sai hiện trạng rừng nói riêng và trong quản lý, sử dụng đất rừng nói chung tại Hợp tác xã Hợp Tiến cần được xử lý nghiêm theo quy định. (VietnamPlus.vn 13/9) Về đầu trang

Chuyện giữ rừng nơi phên dậu chiến lược: Bài 2- Trăn trở ở huyện “30a” Đam Rông

Giữa mênh mông đồi núi dọc theo quốc lộ 27, từ điểm đầu tiếp giáp huyện Lâm Hà đến điểm cuối tiếp giáp huyện Lắc (Đác Lắc), là trục giao thông huyết mạch của huyện Đam Rông. Bên cạnh những nỗ lực tháo gỡ khó khăn về vấn đề di cư tự do, huyện “30a” đặc biệt khó khăn duy nhất của tỉnh Lâm Đồng đang nỗ lực tìm hướng phát triển kinh tế rừng và sản xuất nông nghiệp.

Huyện Đam Rông nằm trên cao nguyên Lâm Viên, phía bắc tỉnh Lâm Đồng, có diện tích tự nhiên hơn 860 km2 với tám đơn vị hành chính cấp xã và 56 thôn, trong đó, bảy trong số tám xã thuộc diện khu vực III và 38 thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn theo Quyết định 1049 của Thủ tướng Chính phủ. Phó Chủ tịch UBND huyện Đam Rông Trần Đức Tâm cho biết: Huyện có gần 12 nghìn hộ, hơn 47 nghìn nhân khẩu. Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 74,4% số dân toàn huyện. Đam Rông là cửa ngõ nối Lâm Đồng với các tỉnh Tây Nguyên, được đánh giá là khu vực trọng yếu của tỉnh nói riêng và khu vực nam Tây Nguyên nói chung. Điều này dẫn đến việc nhiều người dân từ các huyện khác, tỉnh khác, trong đó có dân di cư tự do từ các tỉnh phía bắc vào.

Qua rà soát, đến nay tổng số dân di cư tự do là hơn 1.000 hộ, gần 5.200 người. Từ nhiều nguồn lực tổng hợp của địa phương, đến nay mới chỉ bố trí ổn định cuộc sống được 244 hộ, 922 nhân khẩu, thông qua việc triển khai hai dự án ổn định dân di cư tự do thôn 5, xã Rô Men; dự án sắp xếp ổn định dân di cư tự do (DCTD) tại xã Phi Liêng. Còn lại 507 hộ, 2.732 nhân khẩu chưa được bố trí, sắp xếp ổn định cuộc sống. Trong đó, số dân DCTD đến xã Liêng Srônh cần được sắp xếp ổn định 2.475 khẩu thuộc 452 hộ. Lãnh đạo huyện Đam Rông cho biết thêm, địa bàn các hộ dân DCTD đến sinh sống là những nơi giao thông đi lại hết sức khó khăn, như tiểu khu 181, Tây Sơn, 179, 178, 182, 18. Thành phần chủ yếu của dân DCTD là dân tộc Mông, Dao từ các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Điện Biên... tập trung di cư về đây.

Với các địa phương, công tác phát triển và bảo vệ rừng (BVR) trong bối cảnh diễn ra tình trạng DCTD là mối lo ngại và thách thức lớn. Đồng chí Trần Đức Tâm cho biết thêm, các hộ dân DCTD thường cư trú trong các khu rừng phòng hộ, giao thông đi lại khó khăn, biệt lập với bên ngoài, các hộ dân sống theo nhóm. Nhà ở thường tập trung trong một khu vực ven chân đồi, núi, gần sông suối và được dựng bằng gỗ khai thác trực tiếp từ rừng. Cuộc sống của các đối tượng này không ổn định, không có đất ở, đất sản xuất, dẫn đến tự ý chặt phá rừng, tranh chấp đất với người dân địa phương.

Tính đến nay, số dân DCTD chưa được bố trí, sắp xếp định canh, định cư trên địa bàn huyện còn 1.918 nhân khẩu, 357 hộ đang sống rải rác trong rừng, nhất là tại các tiểu khu thuộc xã Liêng Srônh gây khó khăn trong công tác quản lý BVR. Thậm chí xảy ra chuyện xây dựng, cơi nới cơ sở thờ tự, tôn giáo trái phép, các loại tội phạm mới, nạn trộm cắp, ma túy gia tăng...

Đam Rông đang tính toán thực hiện hai dự án quy hoạch khu mới, xây dựng khu tái định cư cho người Mông. Còn một bộ phận dân DCTD đang ở trong rừng, huyện sẽ quản lý chặt, không cho tiếp tục phá rừng, xem xét tạm thời để người dân sản xuất canh tác trên diện tích đã lấn chiếm trước năm 2015. Điều đáng quan tâm trước mắt là huy động nguồn lực thực hiện dự án định cư cho dân DCTD, đồng thời kiến nghị T.Ư, bộ, ngành, các địa phương có người DCTD cần triển khai các biện pháp ngăn ngừa hiệu quả. “Nếu không, đây là một áp lực rất lớn, quá sức đối với huyện nghèo “30a” ở Tây Nguyên”, lãnh đạo huyện Đam Rông trăn trở.

Công tác quản lý dân DCTD hết sức phức tạp, do hầu hết các hộ sống trong rừng, giao thông đi lại khó khăn gây trở ngại cho công tác vận động, tuyên truyền. Quỹ đất chuyển đổi mục đích sang đất nông nghiệp để khai hoang bố trí cho người dân tại các dự án sắp xếp dân cư ít, không bảo đảm hoặc nơi có quỹ đất thì không thuận lợi cho canh tác (do địa hình có độ dốc lớn, lập địa xấu, giao thông không thuận tiện...). Nguồn vốn phân bổ cho các dự án bố trí dân cư thường chậm, ít và dàn trải, dẫn đến các dự án thường kéo dài, cơ sở hạ tầng đầu tư thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến tính hiệu quả của các dự án. “Các dự án bố trí dân cư thường phát sinh dân DCTD. Người dân đi theo dòng họ, người thân gây khó khăn cho công tác quản lý, bố trí sắp xếp dân DCTD”, Phó Chủ tịch UBND huyện Đam Rông Trần Đức Tâm cho biết. Từ thực tiễn ở huyện “30a” Đam Rông, một trong những vướng mắc cơ bản trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống, đó là ở nhiều nơi, chưa xác định rõ đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp. Vấn đề đặt ra là cần sớm sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, pháp luật để có chế định rõ ràng, qua đó đơn vị chủ rừng quản lý hiệu quả.

Chung quanh câu chuyện BVR tại cộng đồng, nhiều cán bộ cơ sở cho rằng, luật về quản lý và BVR phải đi vào cuộc sống. Mỗi dân tộc ở mỗi địa phương có một phong tục riêng. Luật sửa đổi, bổ sung cần được xem xét thấu đáo từ các cấp cơ sở, được hình thành trên cơ sở các phong tục văn minh ở các địa phương thì sẽ dễ được chấp nhận. Việc giao rừng cho cộng đồng, nhóm hộ, kết hợp quản lý thông qua tập tục, quy ước tại các bon, làng sẽ mang lại hiệu quả hơn. (Nhân Dân 14/9, tr1+2)Về đầu trang

Đến năm 2025 giá trị thu nhập từ đất lâm nghiệp ở Hà Tĩnh lên tới 7.500 tỷ đồng

Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đang triển khai “Đề án khai thác tiềm năng, lợi thế rừng, đất lâm nghiệp để phát triển bền vững KT – XH tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2025 và những năm tiếp theo”

Hiện Hà Tĩnh có diện tích rừng trồng nguyên liệu 72.600 ha, trong đó rừng keo chiếm 58.000 ha. Định hướng, thời gian tới, tỉnh chỉ đạo tập trung phát triển vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng phục vụ chế biến theo quy hoạch, để đến năm 2025 toàn tỉnh có khoảng 77.700 ha. Qua đó, sẽ cấp chứng chỉ FSC cho rừng trồng, hình thành vùng nguyên liệu cung cấp cho 2 nhà máy chế biến với diện tích 10.350 ha; xây dựng mô hình “khu rừng thâm canh kiểu mẫu” diện tích 3.000 ha gỗ nhỏ tại Cẩm Xuyên và Kỳ Anh.

Về phát triển chăn nuôi, cây thức ăn chăn nuôi được quy hoạch trên đất lâm nghiệp 3.800 ha. Thời gian tới sẽ phấn đấu nâng thêm 1.840 ha còn lại, để đến năm 2025 tổng diện tích thực hiện trên đất lâm nghiệp đạt con số 3.000 ha.

Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Nguyễn Văn Việt, mục tiêu đề án là quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững 360.700 ha rừng và đất lâm nghiệp hiện có theo quy hoạch, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng NTM. Tất cả hướng tới mục tiêu đưa tổng giá trị sản phẩm trên đất lâm nghiệp từ 3.000 tỷ đồng năm 2016 lên khoảng 7.500 tỷ đồng vào năm 2025.

Quá trình thực hiện, tỉnh sẽ chuyển đổi trên 6.300 ha rừng và đất lâm nghiệp để  phát triển các sản phẩm nông nghiệp hàng hoá chủ lực với giá trị đạt khoảng 5.400 tỷ đồng. Hoàn thiện hệ thống các cơ sở chế biến theo quy hoạch; hoàn thành xây dựng 2 nhà máy ván sợi MDF, OSP, OKAL, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm nghiệp đạt khoảng 90 triệu USD/năm.

Thời gian qua, Hà Tĩnh đã tiến hành nhiều cuộc hội thảo, tiếp thu ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các sở, ban, ngành, các địa phương để đề án hoàn chỉnh, sớm trở thành hiện thực. (Nhà Báo & Công Luận 13/9) Về đầu trang

Nghệ An: Cháy rừng Lim ở khu vực giáp ranh Nghệ An – Thanh Hóa

Vụ cháy rừng xảy ra vào lúc 10 sáng ngày 13/9, tại khu vực giáp ranh Nghệ An-Thanh Hóa với diện tích gần 1 ha.

Theo Báo Nghệ An đưa vào lúc 10h sáng 13/9, đã xảy ra cháy rừng tại khu vực giáp ranh giữa xã Quỳnh Lập (TX. Hoàng Mai) với huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa).

Ngọn lửa bắt nguồn từ khu vực rừng của xã Hải Hà (Tĩnh Gia) sau đó nhanh chóng lan nhanh sang rừng của doanh nghiệp Lê Duy Nguyên ở xã Quỳnh Lập, TX. Hoàng Mai.

Nhận được tin báo, Ban chỉ đạo PCCR của thị xã Hoàng Mai đã huy động các đơn vị Kiểm lâm, Đồn Biên phòng Quỳnh Phương, Phòng cảnh sát PCCC số 4 và lực lượng chữa cháy cơ sở của 2 xã Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập tham gia chữa cháy.

Mặc dù địa hình phức tạp, cộng với thời tiết nắng nóng, đám cháy bùng phát nhanh nhưng lực lượng chức năng đã kịp thời phát đường băng cản lửa ngăn không cho đám cháy lan rộng.

Theo thống kê ban đầu, diện tích rừng bị cháy gần 1 ha, chủ yếu là rừng cây lim đã được 10 năm tuổi. Đến 14h chiều 13/9, đám cháy đã được khống chế. (Moitruong.net.vn 13/9; Bnews.vn 13/9; An Ninh Thủ Đô 14/9, tr2) Về đầu trang

DNTN Bảo Châu là thành viên mạng lưới kinh doanh lâm sản toàn cầu

Sáng 13/9, Tổ chức Quỹ quốc tế bảo vệ Thiên nhiên (WWF) đã trao chứng nhận thành viên mạng lưới kinh doanh toàn cầu (GFTN) cho DNTN Bảo Châu, có trụ sở số 139 Hùng Vương, phường 6, TP Tuy Hòa (Phú Yên).

DNTN Bảo Châu (Phú Yên) là thành viên mạng lưới kinh doanh lâm sản toàn cầu

Phát biểu tại lễ trao chứng nhận, TS Lê Thiện Đức, đại diện WWF tại Việt Nam cho biết, mạng lưới kinh doanh lâm sản toàn cầu là sáng kiến của WWF từ năm 2005 nhằm góp phần chấm dứt tình trạng khai thác gỗ trái phép và cải thiện công tác quản lý rừng bền vững.

Tính đến nay, tại Việt Nam có 10 thành viên tham gia. Để trở thành viên, những đơn vị này phải đi tiên phong phát triển lâm nghiệp có trách nhiệm với xã hội và môi trường; đồng thời cần xây dựng kế hoạch hành động thực hiện, tiến tới cấp chứng chỉ rừng FSC.

“Đối với DNTN Bảo Châu, chúng tôi đánh giá cao vì đã đồng hành với tổ chức, để chung tay hướng đến phát triển rừng bền vững và thương mại gỗ có trách nhiệm”, TS Đức chia sẻ.

Còn ông Trần Đăng Khoa, GĐ DNTN Bảo Châu cho biết, ông rất tin tưởng vào các giá trị mà mạng lưới GFTN tạo dựng và mong muốn các khu rừng DN quản lý đạt được các tiêu chuẩn bền vững về môi trường và xã hội. Từ đó giúp DN nâng cao giá trị sản phẩm trên thị trường.

Được biết, hiện nay DNTN Bảo Châu đang quản lý hơn 2.000ha rừng trồng. Với sự tham gia mạng lưới này, DN sẽ đưa diện tích rừng quản lý bền vững do GFTN hỗ trợ tăng gần 3.900ha. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/9, tr12; Nông Nghiệp Việt Nam Online 13/9) Về đầu trang

Đắk Lắk: Để dành rừng vì voi

Trong những năm 1980, đàn voi hoang dã tại Đắk Lắk có trên 550 cá thể thì nay chỉ còn khoảng 60-80 con. Đàn voi rừng giảm mạnh có nguyên do từ tình trạng voi bị săn bắn trộm để lấy ngà và  do biến đổi khí hậu làm nhiều voi con chết trong lúc theo mẹ đi kiếm ăn, tìm nước uống.

Những năm gần đây, voi hoang dã xung đột với con người với tần suất năm sau nhiều hơn năm trước. Từ tháng 6/2012 đến nay, đã có hơn 100 đợt voi hoang dã di chuyển đến những khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp của nhân dân và các doanh nghiệp kiếm ăn, phá hoại làm thiệt hại hàng trăm ha cây trồng. Thậm chí đã có trường hợp voi tấn công làm chết và bị thương con người.

Ông Huỳnh Trung Luân - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk cho biết,  nguyên nhân dẫn đến tình trạng voi hoang dã xung đột với người được xác định là do con người tác động quá mức đến rừng nguyên sinh trong quá trình khai thác lâm sản cùng với việc chuyển đổi rừng sang trồng cây nông nghiệp, cây công nghiệp đã làm cho môi trường sống của voi hoang dã ngày càng thu hẹp, nguồn thức ăn bị khan hiếm dần, nhất là vào mùa khô. Từ đó, voi rừng đã thường xuyên đến nương rẫy nơi có nhiều thức ăn “để giải quyết cái đói” dẫn đến xung đột với người cũng là bất khả kháng.

Bên cạnh đó, đàn voi rừng giảm mạnh còn có nguyên do từ tình trạng voi bị săn bắn trộm để lấy ngà, như năm 2012 đã có 3 cá thể voi rừng bị sát hại bằng súng đạn. Một nguyên nhân nữa là do biến đổi khí hậu, mùa khô nguồn nước từ các sông suối khô cạn đã làm nhiều voi con chết trong lúc theo mẹ đi kiếm ăn, tìm nước uống. Trong hơn một năm qua, có đến 5 cá thể voi rừng con hoang dã bị chết, trong đó có 3 voi con sa xuống hồ nước. Từ năm 2009 đến nay đã thống kê được 22 cá thể voi rừng bị chết.

Vào những năm 1980, toàn tỉnh Đắk Lắk có khoảng 502 cá thể voi nhà thì nay chỉ còn 44 cá thể. Voi nhà tập trung ở 2 huyện Buôn Đôn và huyện Lắk và chủ yếu sử dụng vào mục đích phục vụ khách du lịch và tham gia các lễ hội văn hóa truyền thống của địa phương. Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk nhận định, đặc tính của voi là ăn nhiều loại cây trong rừng, nhưng hiện nay diện tích rừng tự nhiên để chăn thả voi nhà ngày càng bị thu hẹp và cách khá xa vùng nuôi voi nhà.

Vì vậy, chế độ ăn hàng ngày cho voi không được đảm bảo về dinh dưỡng, hơn nữa voi nhà phải thường xuyên phục vụ khách du lịch đã làm giảm tuổi thọ, khả năng sinh sản của voi. Hơn nữa mô hình quản lý voi hiện nay là độc lập theo từng tổ chức, hộ gia đình để phục vụ khai thác du lịch thường xuyên, nên voi nhà không có cơ hội gặp gỡ, giao phối... Ghi nhận trong 30 năm qua, voi nhà tại Đắk Lắk đã không sinh sản, trong khi số lượng voi đang giảm dần qua các năm.

Theo ông Huỳnh Trung Luân, việc cần làm trong công tác bảo tồn voi là kiểm soát được quần thể voi hoang dã, thực hiện các giải pháp làm giảm thiểu xung đột voi với người, thành lập các tổ chức bảo vệ voi, hỗ trợ thiệt hại cho người dân khi bị voi phá, tấn công. Hiện nay, Trung tâm Bảo tồn voi đã được cấp 200ha đất rừng nguyên sinh tại xã Krông Na, huyện Buôn Đôn làm sinh cảnh để bảo tồn voi.

Trong năm 2015-2016, trung tâm đã cứu hộ được hai cá thể voi rừng bị trúng bẫy và voi rừng con bị lạc đàn. Hiện nay, hai cá thể này đang được chăm sóc và phát triển tốt tại trung tâm và sẽ từng bước đưa trở lại thiên nhiên trong khu vực 200ha rừng nguyên sinh. Đối với voi nhà, hàng năm voi được khám chữa bệnh định kỳ, Nhà nước hỗ trợ 100% tiền khám chữa bệnh và thuốc chữa bệnh cho voi.

Trong năm 2015, Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk đã thực hiện thành công việc tạo sinh cảnh để voi nhà của hộ ông Y Mứ Bkrông- chủ voi cái Bang Nang -giao phối mang thai được hơn 20 tháng, dự kiến sinh vào cuối tháng 9/2017. Đây là tín hiệu vui đối với tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung sau 30 năm voi nhà không sinh sản.

Voi nhà mang thai, chủ hộ là Y Mứ Bkrông đã được trao kinh phí 171 triệu đồng bù cho việc voi đi phục vụ du lịch để chủ voi yên tâm chăm sóc voi Bang Nang đến khi sinh voi con nuôi lớn thành công. Cùng thời điểm này có 5 cặp voi nhà thả trong rừng tự nhiên để giao phối. Công trình nghiên cứu khoa học cấp tỉnh về khả năng sinh sản trên voi thuần dưỡng tại Đắk Lắk đang mở ra triển vọng mới cho việc bảo tồn voi nhà.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong bảo tồn voi hiện nay là quần thể voi hoang dã tuy đã được giám sát nhưng số lượng còn khoảng 60-80 cá thể và sinh cảnh sống tự nhiên suy giảm, chia cắt đang ảnh hưởng rất lớn cho phát triển bền vững. Trong khi đó, voi nhà có 44 con (25 voi cái và 19 voi đực) chỉ còn lại 25 con trong độ tuổi sinh sản. Bởi vậy, để voi gặp gỡ giao phối mang thai có hiệu quả cao thì vẫn cần sự đầu tư mạnh mẽ hơn nữa để sự phối hợp giữa chủ voi và Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk trong việc chăm sóc sức khỏe cho voi, xác định thời điểm voi cái động dục đưa vào rừng thả để gặp gỡ giao phối là vấn đề mấu chốt để ngày càng có nhiều voi mẹ sinh sản như voi Bang Nang. (Pháp Luật Việt Nam 14/9, tr9; Pháp Luật Việt Nam Online 14/9) Về đầu trang

Quảng Nam triển khai dự án trồng và phục hồi rừng dừa nước

UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành quyết định triển khai dự án trồng và phục hồi rừng dừa nước ven biển Cẩm Thanh với nguồn vốn đầu tư 25,5 tỷ đồng.

Với nguồn kinh phí đầu tư 25,5 tỷ đồng, dự án trồng và phục hồi dừa nước Cẩm Thanh sẽ điều chỉnh mật độ trồng mới rừng dừa từ 4.400 cây/ha lên 4.440 cây/ha; điều chỉnh mật độ trồng bổ sung khoảng 300 cây/ha đối với diện tích quy hoạch 61ha, và 500 cây/ha đối với diện tích quy hoạch 27 ha để hướng đến mật độ thành rừng dừa sau thời gian kiến thiết cơ bản, đảm bảo mật độ chung 3.300 – 3.500 cây/ha.

Cách Phố cổ Hội An 4 km, rừng dừa nước Cẩm Thanh nằm giữa nơi hợp lưu của hạ nguồn sông Thu Bồn, với các sông Đế Võng và Trường Giang; là vùng nước thường xuyên nhiễm mặn, đây là điều kiện thuận lợi cho hệ sinh thái rừng ngập mặn phát triển; cây dừa nước sinh sôi nảy nở thành rừng dừa dọc khắp các bờ kênh rạch, tạo nên màu xanh mát đặc trưng nơi đây. Việc phục hồi rừng dừa nước Cẩm Thanh không chỉ có ý nghĩa phát triển du lịch mà còn tạo ra hành lang xanh bền vững trong ứng phó với biến đổi khí hậu của đô thị cổ Hội An, Quảng Nam. (Nông Nghiệp Việt Nam 14/9, tr13; VTVNews 13/9) Về đầu trang