Tổng cục lâm nghiệp - Điểm báo ngày 10/8/2017

Điểm báo ngày 10/8/2017

Cập nhật ngày : 10/08/2017 1:48:07 CH

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 10 tháng 8 năm 2017)

Quảng Bình mở rộng diện tích, nâng cao hiệu quả kinh tế rừng

Triển khai đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2014-2020, tỉnh Quảng Bình có nhiều giải pháp để mở rộng diện tích và nâng cao hiệu quả kinh tế rừng. Theo đó, tỉnh coi trọng công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả rừng tự nhiên; mở rộng và nâng cao chất lượng, năng suất rừng trồng; tập trung từng bước chuyển đổi cơ cấu sản phẩm gỗ rừng trồng từ khai thác gỗ non phục vụ chế biến dăm xuất khẩu sang kinh doanh gỗ lớn phục vụ chế biến tinh, sâu.

Với 205.467 ha rừng sản xuất, tỉnh tiếp tục chuyển đổi một số diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao-su, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt để trồng rừng; bảo vệ tốt các diện tích rừng giàu, rừng trung bình và rừng nghèo còn lại. Ðồng thời, kết hợp thực hiện các giải pháp lâm sinh, như: làm giàn rừng, nuôi dưỡng rừng, nâng cao chất lượng, trữ lượng rừng đáp ứng mục tiêu khai thác trong thời gian tới.

Ðể nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng của các địa phương, đơn vị, tỉnh xây dựng phương án và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả việc phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn giai đoạn 2014-2020 với diện tích 2.000 ha. Ðồng thời, đẩy mạnh trồng rừng kinh doanh gỗ lớn, chuyển hóa rừng trồng cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn; áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh, nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng. Quảng Bình phấn đấu đến năm 2020 có độ che phủ rừng trên toàn tỉnh đạt 70%, bảo đảm chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học...  (Nhân Dân 10/8, tr1+3; Nhân Dân Online 10/8; TTXVN 10/8) Về đầu trang

Loại bỏ thủy điện phá rừng

UBND tỉnh Gia Lai ngày 9-8 đã có báo cáo gửi Bộ Công Thương và các đơn vị liên quan về công tác quản lý, đầu tư xây dựng, vận hành các công trình thủy điện trên địa bàn.

Theo quy hoạch, tỉnh Gia Lai có 74 công trình thủy điện. Qua rà soát, tỉnh đã loại khỏi quy hoạch 17 dự án thủy điện vừa và nhỏ (tổng công suất hơn 44 MW). Trong số này, nhiều dự án có công suất rất nhỏ, chỉ từ 0,25 MW (thủy điện Thác Lồ Ô) đến 0,6 MW (thủy điện Smlá 2, thủy điện Ia Tơ Ver).

Bên cạnh đó, UBND tỉnh Gia Lai đã dừng vận hành Thủy điện Kanak công suất 0,18 MW và Thủy điện Ia Kha công suất 0,225 MW. Ngoài ra, trên địa bàn đang có 14 dự án đã được quy hoạch nhưng chưa có chủ trương đầu tư. Trong đó, 7 dự án đã được UBND tỉnh Gia Lai thống nhất với Bộ Công Thương đưa ra khỏi quy hoạch và đang chờ kết quả cuối cùng từ bộ này.

Đáng chú ý, trong số này có dự án Thủy điện Ia Krêl 2 (xã Ia Dom, huyện Đức Cơ) đã 2 lần bị vỡ đập khi đang thi công (Báo Người Lao Động đã nhiều lần thông tin). UBND tỉnh Gia Lai đã thống nhất không cho phép chủ đầu tư tiếp tục triển khai và đã thu hồi dự án. Hiện nay, một số doanh nghiệp xin thực hiện khảo sát để đầu tư dự án thủy điện nhưng UBND tỉnh Gia Lai chưa cho phép do ảnh hưởng đến rừng và đất rừng, như thủy điện Đắk Trai ở huyện Kbang.

Ông Bùi Khắc Quang, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Gia Lai, cho biết 17 dự án vừa loại khỏi quy hoạch là những dự án thủy điện nhỏ, có ảnh hưởng tiêu cực đến rừng và đất rừng. "Dự án thủy điện, sản xuất công nghiệp nào cũng có 2 mặt tích cực và tiêu cực. Phân tích tổng thể cái nào tích cực hơn thì cho triển khai, cái nào tiêu cực nhiều thì loại bỏ" - ông Quang nhìn nhận.

Theo báo cáo ngày 18-7 của UBND tỉnh Đắk Lắk, đến nay, tỉnh này và Bộ Công Thương đã loại bỏ 13/22 công trình và 71/79 điểm tiềm năng thủy điện đã được quy hoạch trước đó.

UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết năm 2005, tỉnh đã quyết định phê duyệt quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ với 22 công trình và 79 điểm có tiềm năng thủy điện - tổng công suất khoảng 190 MW. Trong đó, 10 công trình đã đầu tư xây dựng, 12 công trình đã được khảo sát thực tế tính toán chỉ tiêu kỹ thuật để đưa vào xây dựng giai đoạn 1.

Tuy nhiên, do có nhiều thủy điện tác động đến rừng tự nhiên, ảnh hưởng đến đời sống xã hội và kém hiệu quả kinh tế nên tỉnh Đắk Lắk đề xuất với Bộ Công Thương rà soát, loại bỏ nhiều dự án, điểm tiềm năng ra khỏi quy hoạch. Điển hình là Nhà máy Thủy điện Đrăng Pốk có công suất dự kiến 26 MW.

Đrăng Pốk là dự án thủy điện có nhiều "tai tiếng" do nằm ngay trong vùng lõi Vườn Quốc giá Yók Đôn (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk). Nếu được triển khai xây dựng, ngoài việc làm mất hàng chục hecta rừng trong vùng lõi của vườn quốc gia, dự án còn tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên, đa dạng sinh học… Năm 2016, UBND tỉnh Đắk Lắk đã quyết định loại bỏ dự án này ra khỏi quy hoạch. Năm 2017, tỉnh Đắk Lắk tiếp tục rà soát, loại bỏ thêm dự án Nhà máy Thủy điện Buôn Bra.

"Đắk Lắk kiên quyết loại bỏ các dự án nhà máy thủy điện ảnh hưởng đến rừng tự nhiên, đời sống của người dân" - ông Nguyễn Ngọc Thông, Trưởng Phòng Kỹ thuật An toàn môi trường thuộc Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk, khẳng định. (Người Lao Động 10/8, tr5; Người Lao Động Online 9/8; Lao Động Online 9/8) Về đầu trang

Gia Lai: Bắt giữ xe công nông chở gỗ trái phép

Ngày 9.8, CA huyện Chư Sê cho biết, đã bắt giữ 25 lóng gỗ xoan đào được vận chuyển trái phép trên 2 xe công nông độ chế.

Qua mật phục CA đã phát hiện 2 tài xế là Lý Văn Hiền (SN 1997) và Đặng Thành Tiền (SN 1985, cùng trú xã Ia Hla, huyện Chư Pưh) đang chở 25 lóng gỗ xoan đào, dài 2-4m với tổng khối lượng hơn 8m3. Toàn bộ số gỗ đều không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ.

Hai tài xế khai nhận, chỉ vận chuyển thuê về xã Ia Hlốp (huyện Chư Sê) để bàn giao cho người tên Tuấn, khi đến địa điểm sẽ có người ra nhận. CA huyện Chư Sê đã chuyển toàn bộ phương tiện cùng số gỗ sang Hạt kiểm lâm để xử lý theo thẩm quyền. (Lao Động Online 9/8) Về đầu trang

Điện Biên: Cấp trên 5.000 Giấy CNQSD đất lâm nghiệp

Thực hiện Kế hoạch 388/KH-UBND của UBND tỉnh Điện Biên từ năm 2/2013 đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường Điện Biên đã tiến hành rà soát, hoàn chỉnh các thủ tục giao đất, giao rừng, cấp 5.125 Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất lâm nghiệp cho 3.424 cộng đồng, hộ gia đình.

Theo Chỉ thị 1474CT-CP của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách, chấn chỉnh việc cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, tỉnh Điện Biên đã có Chỉ thị, Quyết định về: thực hiện đẩy nhanh tiến độ và giao chỉ tiêu cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đặc biệt là Kế hoạch số 388 về rà soát, hoàn chỉnh thủ tục giao đất, giao rừng cấp GCNQSD đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên.

Sở TN&MT Điện Biên phối hợp với Sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thị T.P trong tỉnh thực hiện giao đất cho trên 3.700 cộng đồng, hộ gia đình với diện tích hơn 268.975 ha và cấp 5.125 GCNQSD đất lâm nghiệp, cho 3.424 cộng đồng, hộ gia đình, với diện tích là trên 267. 642 ha. Ngoài ra, Sở còn thực hiện giao đất, giao rừng và cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho 3 ban quản lý rừng phòng hộ (Mường Chà, Tuần Giáo, Điện Biên), diện tích trên 15.699 ha và 2 ban quản lý rừng đặc dụng (Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé và Ban Quản lý Rừng đặc dụng Mường Phăng), diện tích trên 46.585 ha. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 9/8) Về đầu trang

Lâm Đồng: Tạm giữ gỗ nghi thông đỏ tại nhà trưởng ban quản lý rừng

Chiều 9.8, tại nhà ông Nguyễn Văn Nhẫn (xã Phú Hội, huyện Đức Trọng), đoàn kiểm tra liên ngành gồm Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng, Viện nghiên cứu khoa học Tây Nguyên và Công an, Viện KSND huyện Đức Trọng đã lập biên bản tạm giữ 6 lóng gỗ rừng tự nhiên, nghi là thông đỏ quý hiếm. Ông Nhẫn là Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh thuộc huyện Đức Trọng.

Làm việc với đoàn kiểm tra, ông Nhẫn xác nhận 6 lóng gỗ này là gỗ thông đỏ quý hiếm. Về nguồn gốc số gỗ, ông Nhẫn khai nhận ông được một doanh nghiệp tại Khu Công nghiệp Phú Hội, huyện Đức Trọng mua bán hợp pháp tại Đà Lạt rồi tặng lại. Nhưng theo ghi nhận của đoàn kiểm tra, cả 6 lóng gỗ đều không có dấu búa của kiểm lâm. Do vậy đoàn kiểm tra đã tạm giữ, đưa về Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng để chờ kết quả làm rõ, xử lý.

Ông Nông Văn Duy – Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên - cho biết, do gỗ đã được cưa xẻ thành lóng, hộp nên chưa thể xác định là gỗ gì. Đoàn kiểm tra cũng đã lấy mẫu gửi ra Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam để giám định chủng loại, nhóm gỗ làm căn cứ xử lý vụ việc.

Trước đó, từ báo cáo ban đầu của Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có 2 văn bản chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra, làm rõ số gỗ trong nhà ông Nhẫn cũng như quần thể thông đỏ ở núi Voi thuộc lâm phần Ban Quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh bị cưa trộm. (Danviet.vn 9/8; Công An Nhân Dân Online 9/8; Người Lao Động 10/8, tr2) Về đầu trang

Hành trình gian nan bảo tồn loài voi ở đất nước 'Triệu voi'

Loài voi ở Lào và cả toàn châu Á đang trong tình trạng báo động. Nhiều tổ chức và cá nhân đang nỗ lực từng ngày để mang lại cho loài động vật này cuộc sống chúng đáng được hưởng.

Voi ở trại MandaLao Trại voi MandaLao là một trong những nơi hiếm hoi loài voi ở Lào được chăm sóc và sống cuộc sống gần gũi với thiên nhiên.

Trại MandaLao mang đến cho khách tham quan trải nghiệm rất khác so với những trại voi điển hình ở Lào và Thái Lan.

Không cưỡi voi. Không trình diễn xiếc. Không một màn voi khiêu vũ. Người đến thăm MandaLao chỉ đơn giản thấy những con vật khổng lồ quẫy nước trên sông, vật nhau nơi bãi cỏ, và ăn nhẹ bên tán rừng.

"Khách du lịch thường hỏi chúng tôi về những 'khu bảo tồn' ở châu Á", Jason Baker, phó chủ tịch phụ trách các chiến dịch quốc tế của Tổ chức Bảo vệ Quyền lợi Động vật (PETA), cho biết. "Tôi trả lời họ rằng những khu bảo tồn voi tốt nhất sẽ khá nhàm chán đối với con người, bởi ở đó, chúng chỉ đi quanh và sống đúng cuộc sống của voi".

"Voi có ý nghĩa rất lớn đối với người dân Lào nhưng chúng ngày càng ít đi, có những đứa trẻ thậm chí còn chưa từng được nhìn thấy voi", Michael Vogler, đồng sáng lập trại voi MandaLao vào năm 2016, nói với CNN. "Rất nhiều người không nhận ra mức độ tuyệt vọng của tình hình".

Lào có khoảng 15 khu bảo tồn voi. Trong khi các khu bảo tồn này thường ra rả về việc chăm sóc voi, du khách lại hay thấy chúng bị xích giữ, bị mang ra cưỡi hoặc biểu diễn xiếc và bị kiểm soát bằng những chiếc móc. Điều đó chính Vogler từng chứng kiến.

"Trong chuyến đi Lào đầu tiên (năm 2011), tôi đến một khu bảo tồn voi ở Luang Prabang. Mọi thứ đều không như mong đợi. Khi không phải phục vụ du khách, voi bị giữ cả ngày giữa trời nắng nóng bằng những đoạn xích siêu ngắn, chỉ khoảng 1 m", Vogler kể. "Chúng trông thực sự không hề vui".

Nằm bên bờ sông Nam Khan, phía bắc nước Lào, trại MandaLao rộng 80 ha, với những không gian râm mát, rừng, lạch nước và cơ sở thú y.

"Người ta tập trung vào huấn luyện voi để giải trí cho con người. Chúng tôi thì không", Vogler nói.

Khách tham quan MandaLao có thể dạo quanh rừng cùng voi - chứ không phải trên lưng voi - và mang thức ăn để khuyến khích chúng đi tiếp suốt quãng đường.

MandaLao hiện là nhà của 6 voi cái trưởng thành và 1 voi con 18 tháng tuổi. Chúng đều được giải cứu khỏi ngành khai thác gỗ.

"Chúng có cá tính và đặc điểm riêng biệt. Như với voi con Kit, thỉnh thoảng chúng tôi phải thử 2-3 thứ khác nhau để xem nó muốn ăn gì", Vogler nói. "Nó sẽ không ăn mía trừ khi đã được bóc sẵn vỏ. Nó được chiều quá sinh hư".

Vogler cho biết, nếu mọi việc theo đúng kế hoạch, voi Kit sẽ không sống cả đời tại MandaLao. Ban quản lý trại đang làm việc với một vườn quốc gia để đem trả lại loài vật về thiên nhiên hoang dã.

MandaLao không phải khu bảo tồn voi duy nhất đang cố gắng thay đổi tình hình. Năm 2011, Trung tâm Bảo tồn Voi (ECC) rộng 106 ha được thành lập ở miền Tây nước Lào. Đây được coi là cơ sở thú y dành cho voi đầu tiên trên cả nước.

"Khai thác voi quá mức dẫn đến những tai nạn, đôi khi cả cái chết cho loài voi và làm giảm tuổi thọ của chúng", Sébastien Duffillot, người thành lập ECC, giải thích. "Chúng phải làm việc quá sức, và bởi khai thác gỗ là cách duy nhất mang về thu nhập cho chủ voi, chúng không còn cơ hội sinh đẻ nữa".

Một chương trình đã trả cho các chủ voi khoản tiền tương đương 4 năm thu nhập, đổi lấy việc cho voi cái sinh đẻ tại ECC. Ở đó chúng được hưởng chăm sóc trước và sau sinh.

Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (WWF) cho hay số lượng voi châu Á giảm 50% trong thế kỷ qua, từ 100.000 vào đầu những năm 1900 xuống còn 50.000 con hiện tại. Tình hình đáng báo động nhất là ở Bangladesh và Việt Nam, mỗi nước chỉ còn khoảng 200 con voi.

"Chúng ta cần thời gian, nhưng loài voi lại đang nhanh chóng biến mất", Duffillot nói. "Tôi tin vào nỗ lực của những người ở các địa phương, từ làng, rồi huyện, đến tỉnh... thành công của họ sẽ giúp khiến cấp trung ương quan tâm và xây dựng những chương trình có ý nghĩa với quy mô quốc gia, và hy vọng là cả khu vực". (News.zing.vn 9/8) Về đầu trang

Bảo vệ vốn rừng Tây Nguyên

Diện tích rừng và đất lâm nghiệp 5 tỉnh Tây Nguyên có gần 3.321.000 ha; trong đó diện tích có rừng chiếm 76,21%, đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp chiếm 23,79%.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hiện Thông báo số 191/TB-VPCP về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên, sau 1 năm triển khai, các tỉnh Tây nguyên đã quyết liệt các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng với quyết tâm khôi phục, bảo vệ và phát triển vốn rừng hiện có.

Các tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng không tham mưu, đề xuất, xem xét đối với các dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác. Không cấp phép khai thác tận thu, tận dụng lâm sản trên diện tích rừng tự nhiên đã có quyết định chuyển đổi nhưng chưa thực hiện khai thác tận dụng. Đồng thời, không giao chỉ tiêu khai thác rừng theo phương án quản lý rừng bền vững.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn, thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ về đóng cửa rừng tự nhiên, không chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên hiện còn sang mục đích khác, không chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cây công nghiệp đã được các tỉnh chấp hành và thực hiện một cách nghiêm túc.

Các địa phương đã tiến hành rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các dự án, nhất là các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp sang trồng cây cao su. Hiện có 565 dự án, với diện tích đất rừng và đất lâm nghiệp 214.153 ha. Riêng các dự án chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng cao su có 220 dự án với 114.729 ha; trong đó, đất rừng tự nhiên nghèo kiệt trên 93.000 ha.

Qua rà soát, đánh giá, các địa phương đã thu hồi toàn bộ hoặc một phần dự án đối với các dự án triển khai chậm tiến bộ; không thực hiện dự án để rừng bị phá, bị lấn chiến, sang nhượng trái phép… và xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Đồng thời, có các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.

Diện tích rừng và đất lâm nghiệp 5 tỉnh Tây Nguyên có gần 3.321.000 ha; trong đó diện tích có rừng chiếm 76,21%, đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp chiếm 23,79%. Độ che phủ rừng đạt 46,01%, giảm 0,07% so với năm 2015.

Năm 2016, số vụ vi phạm về quản lý, bảo vệ rừng giảm 8% so với năm 2015. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm 2017, số vụ vi phạm lại tăng 7% so với cùng kỳ năm 2016. Lý giải số vụ vi phạm nói chung, số vụ phá rừng và diện tích rừng bị thiệt hại tăng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, một số vụ phá rừng xảy ra cuối năm 2016 nhưng đầu năm 2017 mới thông kê, đặc biệt một số vụ vi phạm được thống kê ở các công ty lâm nghiệp đang trong quá trình rà soát, sắp xếp, đổi mới.

Các tỉnh đã thành lập các tổ công tác để xử lý diện tích rừng bị phá, đất rừng bị lấn chiếm, khai thác gỗ trái phép, tổ chức giải tỏa, thu hồi diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm. Các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc các đơn vị chủ rừng thực hiện nghiêm túc các phương án quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng.

Về phân cấp quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, đến nay Đắk Nông và Đắk Lắk đã giao trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp đến UBND cấp huyện xã và chủ rừng. Các tỉnh còn lại hiện mới xây dựng dự thảo trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.

Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết, thời gian tới, các địa phương tiếp tục khẩn trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng; kiểm soát chặt chẽ các quy hoạch, dự án phát triển kinh tế, xã hội có tác động tiêu cực đến diện tích, chất lượng rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên, rừng phòng hộ.

Cùng với đó là rà soát, đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường đối với các dự án chuyển đổi rừng tự nhiên đã và đang thực hiện. Rà soát, sắp xếp các cơ sở chế biến gỗ, kiên quyết giải tỏa, thu hồi giấy phép, đình chỉ hoạt động những cơ sở chế biến không tuân thủ các quy định của pháp luật, cơ sở nằm ngoài quy hoạch, không có nguồn nguyên liệu hợp pháp ổn định.

Các vụ phá rừng phải được xử lý sớm, xử lý nghiêm và đặc biệt là làm rõ trách nhiệm của các cấp, ngành, đối tượng để xử lý các vụ phá rừng, Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhấn mạnh. (TTXVN/Bnews.vn 9/8) Về đầu trang

Thắt chặt công tác kiểm soát gấu nuôi nhốt qua chương trình tái gắn chíp

Ngày 9/8, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã phối hợp với Tổ chức Bảo vệ Động vật Thế giới hoàn thành chương trình tái gắn chíp cho khoảng trên 200 cá thể gấu nuôi nhốt tại Hà Nội, một trong những điểm nóng có số lượng trang trại và cá thể gấu bị nuôi nhốt lớn nhất trên cả nước. Với công nghệ mới nhất, loại chíp điện tử được sử dụng lần này sẽ là công cụ đắc lực và an toàn hơn, giúp công tác kiểm tra chíp được thực hiện dễ dàng vì không phải gây mê cho gấu trong mỗi lần kiểm tra.

Việc tái gắn chíp lần này là một phần trong chiến lược mới do một nhóm các tổ chức phi chính phủ về bảo vệ gấu (bao gồm Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), Tổ chức Bảo vệ Động vật Thế giới và tổ chức Four Paws International) phát triển, nhằm hỗ trợ chính phủ thúc đẩy tiến trình chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu tại Việt Nam.

Năm 2005, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) và Tổ chức Bảo vệ Động vật Thế giới (trước đây là Hiệp hội Bảo vệ Động vật Thế giới (WSPA)) đã khởi xướng chương trình đăng ký và gắn chíp cho hơn 4,300 cá thể gấu nuôi nhốt tại hàng trăm trang trại trên khắp cả nước. Đây là bước đi đầu tiên trong nỗ lực mang tính chiến lược và toàn diện nhằm chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu tại Việt Nam. Mục tiêu của việc đăng ký và gắn chíp cho gấu là nhằm thắt chặt công tác quản lý gấu và đảm bảo không có gấu mới phát sinh tại các trang trại.

Trong 12 năm qua, số lượng gấu nuôi nhốt đã giảm đáng kể nhờ cam kết mạnh mẽ từ chính phủ, cũng như nỗ lực thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng cùng sự hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng. Theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTNT đến đầu năm 2015 chỉ còn hơn 1,200 cá thể gấu bị nuôi nhốt trên cả nước.

“Nhìn lại 12 năm kể từ khi chính phủ bắt đầu nỗ lực nhằm tiến tới xóa bỏ hoạt động nuôi gấu lấy mật tại Việt Nam, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận”- bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc ENV cho biết. “Không chỉ số lượng gấu tại các trang trại đã giảm khoảng 70% mà tỉ lệ sử dụng mật gấu cũng sụt giảm khoảng 61 %”. Bà Hà cũng nhấn mạnh rằng những đổi mới về chính sách và nỗ lực thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng hiện nay đã hiệu quả hơn nhiều so với 12 năm trước.

Lấy ví dụ về việc đóng cửa thành công các trại gấu tại Quảng Ninh năm 2015, bà Hà cho rằng sự hợp tác giữa ENV và các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ninh là thành tố quan trọng giúp đặt dấu chấm hết cho vấn nạn “du lịch mật gấu” trên địa bàn tỉnh. Bà Hà nói: “Hoạt động nuôi gấu lấy mật sẽ sớm đi đến hồi kết. ENV và nhóm các tổ chức phi chính phủ về bảo vệ gấu sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với chính phủ, các cơ quan thực thi pháp luật và cộng đồng để nỗ lực đẩy nhanh tiến trình này”.

Về cam kết chấm dứt hoạt động nuôi nhốt gấu tại Việt Nam mới đây của Bộ NN&PTNT, bà Hà chia sẻ: “ENV rất hoan nghênh việc Bộ tái cam kết thực hiện mục tiêu quan trọng này. ENV cũng chân thành cảm ơn các tổ chức phi chính phủ quốc tế đã nỗ lực đóng góp nhằm chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu tại Việt Nam”.

Bà Hà cũng cho biết thêm: “Tất cả các tổ chức, cá nhân, tùy thuộc vào kinh nghiệm và khả năng riêng của mình, đều có vai trò quan trọng và có thể đóng góp vào nỗ lực chung nhằm chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật tại Việt Nam. Từ việc chăm sóc gấu và cung cấp một mái nhà an toàn cho gấu sau khi gấu được chuyển giao hay tịch thu từ các trang trại, hoặc thông qua nhiều cách khác để cùng chung tay chấm dứt ngành công nghiệp tàn nhẫn và phạm pháp này”.

Trên cơ sở các kết quả đạt được của chương trình tái gắn chíp tại Hà Nội, Tiến sĩ Karanvir Kukreja- Tổ chức Bảo vệ Động vật Thế giới (tổ chức đã đồng hành cùng Chính phủ khởi đầu nỗ lực chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu năm 2005) nhấn mạnh sự cần thiết phải ngay lập tức triển khai các hoạt động tiếp theo: “Chương trình tái gắn chíp cho gấu tại Hà Nội chỉ thực sự có ý nghĩa nếu các cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra, giám sát nhằm theo dõi hiệu quả số lượng gấu tại các cơ sở nuôi nhốt cũng như đảm bảo chủ cơ sở không khai thác, buôn bán gấu nuôi dưới mọi hình thức”.

“Tổ chức Bảo vệ Động vật Thế giới đang có kế hoạch mở rộng chương trình tái gắn chíp đến những địa phương trọng điểm khác”, Tiến sĩ Karan cho biết thêm. “Chúng ta có quyền tự hào về những kết quả và thành công đã đạt được từ năm 2005 đến nay. Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể dừng lại khi không còn một cá thể gấu nào bị nuôi nhốt trong các trang trại, và ngành công nghiệp mật gấu chấm dứt vĩnh viễn tại Việt Nam”.

ENV cũng hoan nghênh sự vào cuộc của tổ chức Four Paws International trong nỗ lực chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu tại Việt Nam. Tổ chức Four Paws hiện đang xây dưng một trung tâm cứu hộ gấu chất lượng cao tại tỉnh Ninh Bình để tạo thêm không gian cho những cá thể gấu tịch thu được hoặc được chuyển giao từ các cơ sở nuôi nhốt gấu trên khắp cả nước. (Công An Nhân Dân 10/8, tr1; Thanh Niên 9/8, tr6; Tài Nguyên & Môi Trường Online 9/8) Về đầu trang

Nghệ An, đua nhau ‘xẻ thịt’ rừng ngập mặn để nuôi tôm

Những năm gần đây, phong trào nuôi tôm tại vùng bãi Ngang (huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) ngày càng phát triển kéo theo đó là nhiều diện tích rừng ngập mặn ở đây đang bị tàn phá không thương tiếc.

Những ngày đầu tháng 8/2017, phóng viên Sức khỏe & Môi trường có mặt tại sông Mơ, đoạn qua xã Quỳnh Thanh (Quỳnh Lưu, Nghệ An). Tại đây, đứng từ đê sông Mơ nhìn hướng ra phía bắc, một vùng rừng ngập mặn (rừng ngập mặn cửa biển) xanh ngút ngàn đang bị “hô biến” thành hồ nuôi tôm.

Ngay sát chân cầu, một ao nuôi tôm mới, nằm ngoài đê (thuộc vùng rừng ngập mặn) đang được hình thành.

Từ ao tôm mới đào đắp, phóng viên men dọc bờ đê tiến sâu vào trong. Tại đây, vùng rừng ngập mặn xanh tốt đã được người dân ngang nhiên thuê máy xúc vào đào bới để khoanh bờ bao, đắp đập, be bờ biến rừng ngập mặn dọc sông Mơ thành những ao nuôi tôm rộng mênh mông. Những bờ bao được đắp lên còn khá mới trải dài cả trăm mét cắt xé xuyên những khu rừng đước, vẹt, sú cao quá đầu người.

Qua quan sát của phóng viên, ngoài ao tôm mới được đào đắp, khu vực ngoài đê thuộc diện tích rừng ngập mặn có tới 4-5 ao nuôi tôm đã được hình thành với diện tích lên tới cả héc-ta. Theo một người nuôi tôm trong vùng, số ao nuôi tôm trong khu vực rừng phòng hộ nói trên đều thuộc của một hộ dân trú ở xóm 4, xã Quỳnh Thanh.

Một hộ nuôi tôm khác ở cạnh đó cho biết: Đây tuy là rừng ngập mặn nhưng lâu rồi không thấy nhà nước, chính quyền quan tâm nên mạnh ai người nấy đào ao để nuôi tôm?

Được biết, nhờ có được nguồn vốn tài trợ từ các dự án phi Chính phủ của Nhật Bản và Đan Mạch, nhiều năm trước đây, diện tích rừng ngập mặn ven sông, biển của Quỳnh Lưu không ngừng tăng lên và phát triển tốt. Lúc cao điểm, toàn huyện có trên 500 ha rừng ngập mặn và rừng phi lao ven biển. Tuy nhiên, gần đây diện tích rừng ngập mặn đang có xu hướng giảm mạnh, đến nay chỉ còn còn trên dưới 300 ha.

Thế nhưng tấm lá chắn này đang bị hủy hoại không thương tiếc chỉ vì lợi ích của một vài nhóm người nuôi tôm khiến dư luận bức xúc.

Trao đổi về vấn đề này, ông Hồ Xuân Xuyên, Chủ tịch UBND xã Quỳnh Thanh phủ nhận: “Cái đó họ làm từ trước chứ năm nay họ có làm cái mô. Thêm nữa, vùng đất rừng họ đắp bờ làm ao nuôi tôm đó là của từng hộ cá nhân một chứ không phải của tập thể”.

Khi phóng viên đặt câu hỏi về ao tôm mới đào sát chân cầu trong diện tích rừng phòng hộ, ông Xuyên cho biết: “Đó là cái cửa cống cũ ngày xưa của họ!”.

Làm việc với Ban quản lý rừng phòng hộ Quỳnh Lưu, ông Trần Huy Đạt, Trưởng phòng Kế hoạch – Kỹ thuật cho biết: “Ở xã Quỳnh Thanh giờ tình trạng này nhiều lắm!”.

Nguồn gốc rừng ngập mặn khu vực này trước đây là dự án Hội chữ thập đỏ trồng. Tuy nhiên, từ khi ban chưa thành lập, cây tốt lên là bà con tự ý ra chặt rồi tự trồng lại và không được quản lý tốt nên đã xảy ra tình trạng trên.

Hiện khu vực ngoài đê (vùng rừng ngập mặn) ngoài những ao nuôi tôm được hình thành từ những năm trước thì mới đây, ban cũng phát hiện một vài ao được đào mới với diện tích 0,2 héc-ta. “Cách đây mấy hôm, đoàn của huyện đã xuống kiểm tra, lập biên bản và đình chỉ hộ ông Trần Văn Thuyên đang đào ao nuôi tôm mới trong khu vực rừng phòng hộ”, ông Đạt nói.

“Vùng rừng ngập mặn toàn xã Quỳnh Thanh rộng 21,3 héc-ta nhưng diện tích ao, hồ nuôi tôm của người dân trong vùng đã chiếm tới 15,6 héc-ta. Do vậy hiện tại diện tích cây có rừng chỉ còn hơn 5 héc-ta và ngày càng giảm sút”, đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ Quỳnh Lưu cho biết thêm.

Khi hỏi phải chăng đơn vị quản lý có sự bất lực trong công tác quản lý rừng ngập mặn, ông Trần Hữu Đạt phân trần: Trong công tác quản lý của đơn vị cũng có nhiều bất cập. Phía đơn vị cũng có làm công văn đề xuất, kiến nghị gửi cơ quan cấp trên kể cả tỉnh và sở để có phương án thu hồi hoặc có biện pháp xử lý chứ cứ để như thế thì đơn vị cũng rất khó quản lý. Hơn nữã, đến nay phía đơn vị mới chỉ được giao sơ đồ vùng rừng ngập mặn chứ chưa được giao đất, giao rừng!?

Được biết, không riêng xã Quỳnh Thanh, tình trạng phá rừng ngập mặn để nuôi tôm đã và đang xảy ra ở các xã lân cận như Quỳnh Lương, Quỳnh Bảng Quỳnh Minh...

Nếu tình trạng phá rừng để nuôi tôm không được ngăn chặn kịp thời thì e rằng một ngày không xa, rừng phòng hộ ven sông, biển ở Quỳnh Lưu sẽ bị xóa sổ. (Báo Nghệ An Online 9/8; Sức Khỏe & Môi Trường Online 9/8) Về đầu trang

Gia Lai: Lâm tặc ngang nhiên phá rừng phòng hộ Buôn Đôn

Lâm tặc ngang nhiên đưa xe và cưa máy vào “xẻ thịt” rừng phòng hộ Buôn Đôn. Những điểm tập kết gỗ nằm sát QL29, lâm tặc hoành hành khai thác gỗ cách Trạm Quản lý bảo vệ rừng không xa, nhưng cơ quan chức năng không hay biết.

Một ngày đầu tháng 8, trong vai người dân bản địa vào rừng hái măng, PV “đột nhập” rừng phòng hộ Buôn Đôn (thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đak Lak). Từ trung tâm xã Ea Kiết (huyện Cư M’gar), P.V đi lên QL29 về hướng tỉnh lộ 1 (huyện Buôn Đôn), di chuyển trên QL29 được khoảng 15 km, dấu hiệu rừng phòng hộ Buôn Đôn đang bị “xẻ thịt” bắt đầu hiện ra. Nằm ngay bên vệ đường (tại cột móc Km221, QL29) cây bằng lăng có kích cỡ một người ôm không xuể vừa bị đốn hạ, phần thân đã được cắt gọn dài 4m, chưa được lấy đi, cành lá ngổn ngang.

Theo ông Lê Danh Khởi, rừng phòng hộ Buôn Đôn có diện tích 10.229 ha, nằm trọn trong địa giới hành chính của xã Krông Na (Buôn Đôn) gồm 10 tiểu khu. Trong đó, 5 trạm quản lý bảo vệ rừng thường xuyên 24/24 giờ. Trong 6 tháng đầu năm 2017, Ban đã phát hiện 5 vụ khai thác gỗ với sản lượng 5,29 m3 gỗ các loại, 2 vụ khai thác rừng làm nương rẫy với diện tích 3,02 ha.

Tiếp tục di chuyển về hướng tỉnh lộ 1, hai bên đường, những cây gỗ dầu đường kính từ 10 - 15 cm bị đốn hạ, dấu vết cày xới, kéo gỗ của xe công nông để lại rõ rệt. Nhóm P.V giấu xe vào bụi cây rồi lội bộ men theo con đường mòn dẫn vào rừng. Tại tiểu khu 454, cách QL29 khoảng 300m, PV bắt gặp 2 cây gỗ đường kính khoảng 50cm vừa bị cưa hạ, phần thân đã được lâm tặc cắt khúc đoạn khoảng 3m, xẻ hộp và lấy đi. Rời vị trí trên, đi về hướng đỉnh núi, một cây gỗ khác to cỡ 2 người ôm cũng vừa bị “xẻ thịt”, phần gốc đang còn ứa nhựa, phần thân đương nhiên đã biến mất.

Rời tiểu khu 454, P.V băng qua QL29, tự mở đường để vào tiểu khu 453. Tại tiểu khu này, dấu hiệu "xẻ thịt" rừng phòng hộ càng rõ rết, cảnh tượng hoang tàn hơn. Những gốc cây 2 - 3 người ôm đã cũ, bên cạnh là những cây gỗ đường kính nhỏ hơn, dấu cưa để lại sắc lẹm, phần thân đã được xẻ phách mang đi, cành lá vừa kịp héo. Những dấu tích để lại khẳng định chắc nịch, rừng phòng hộ Buôn Đôn bị xẻ thịt trong suốt một thời gian dài.

Rời tiểu khu 453, chúng tôi quay ngược ra QL29 về hướng xã Ea Kiết, tại Km227, PV rẽ phải theo lối mòn cỏ mọc um tùm đi sâu vào rừng. Di chuyển khoảng 200m từ QL29 vào, trước mặt PV là một bãi tập kết gỗ tròn vừa mới bị “xẻ thịt”, có chiều dài từ 3-4m, nhiều cây gỗ rất to, một người ôm không xuể. Khoảng 15h, từ bãi tập kết gỗ, tiếng cưa máy rít lên liên hồi trên đỉnh núi hướng về Trạm bảo vệ rừng số 4. Chúng tôi quay ra QL29, lần theo hướng tiếng cưa máy đang gầm rú. Trước mặt chúng tôi là tiểu khu 436. Càng tiến sâu, hàng loạt cây gỗ đường kính khoảng 20cm vừa bị cưa hạ đổ ngổn ngang, lá vẫn tươi rói. Tiếp đó là 2 bãi gỗ được cắt vuông vắn đang chờ bốc đi. Lúc này, PV áp sát vị trí lâm tặc đang hoành hành, ống kính ghi nhận nhóm lâm tặc có 4 người, một xe cày và cưa máy đang hoạt động hết công suất. Tiếng gỗ đổ ầm ầm, phần thân nhanh chóng được cắt gọn rồi được 3 người còn lại cẩu lên xe.

Khoảng 17 giờ 30 phút, trời bắt đầu sập tối, nhóm lâm tặc cho xe rời khỏi rừng. Chiếc xe cày chở đầy gỗ ì ạch bò ra hướng QL29. Thấy hai bãi gỗ tập kết, tài xế dừng lại chờ bốc nhưng ba người đi phía sau hô lớn: “Đi đi... Ngày mai mở đường rồi vào bốc”. Sau đó, xe tiến về hướng QL29 rồi tập kết gỗ ngay bên đường (cách QL29 khoảng 3 mét), còn nhóm lâm tặc mất hút về hướng xã Ea Kiết.

Điều đáng ngạc nhiên, trong suốt thời gian P.V ghi nhận, những cánh rừng phòng hộ Buôn Đôn bị lâm tặc ngang nhiên “xẻ thịt”, những vị trí khai thác và tập kết gỗ nằm rất gần Trạm Quản lý bảo vệ rừng số 4 (thuộc Ban Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Buôn Đôn) nhưng trạm này “cửa đóng then cài”.

Trước những hình ảnh ghi nhận được, ngày 4-8, P.V Báo Giao thông đã có cuộc làm việc với ông Lê Danh Khởi, Giám đốc Ban Quản lý bảo vệ rừng Buôn Đôn. Ông Khởi cho biết: “Rừng do đơn vị quản lý nằm giáp với huyện Cư M’gar, huyện Ea Súp và Buôn Đôn. Nhu cầu về gỗ của nhân dân 3 huyện này rất lớn nên có những áp lực không nhỏ tác động đến lâm phần và không tránh khỏi việc phá rừng. Nếu có thông tin này (khai thác gỗ mà PV cung cấp), tôi sẽ cho kiểm tra lại. Các trạm quản lý bảo vệ rừng thường xuyên có người trực 24/24 giờ, một trạm quản lý 2.000 ha nhưng do lực lượng quá mỏng nên rất khó khăn vì lâm tặc rất manh động”.

Khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, P.V đã liên hệ với Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn để phản ánh. Tuy nhiên, có mặt tại cơ quan, nhóm P.V được trực ban cho biết, tất cả các lãnh đạo của đơn vị đều bận, người đi họp, người đi công tác. Tiếp đó, PV đã liên hệ nhiều lần qua số điện thoại và nhắn tin đăng ký nội dung làm việc với ông Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn nhưng đều bất thành. (Giao Thông Online 9/8; Baogialai.com.vn 9/8) Về đầu trang

Gia Lai: Ban Chỉ đạo thu hồi đất rừng bị lấn chiếm tỉnh làm việc tại huyện Krông Pa

Sáng 9-7, tại hội trường UBND huyện, Đoàn công tác số 4 của Ban Chỉ đạo (BCĐ) thu hồi đất rừng bị lấn chiếm tỉnh do ông Nguyễn Ngọc Rân-Chi Cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với BCĐ thu hồi đất rừng bị lấn chiếm huyện Krông Pa về tình hình thu hồi đất rừng bị lấn chiếm và kế hoạch trồng rừng trên địa bàn huyện Krông Pa năm 2017. 

Thực hiện công tác thu hồi đất rừng bị lấn chiếm theo sự chỉ đạo của UBND tỉnh, huyện Krông Pa đã ban hành kế hoạch; thành lập BCĐ và ban hành quy chế hoạt động của BCĐ cấp huyện, đồng thời chỉ đạo UBND các xã thành lập BCĐ và quy chế hoạt động của BCĐ cấp xã, kế hoạch thu hồi của cấp xã. 

Theo kế quả rà soát, tổng diện tích đất rừng bị lấn chiếm của huyện là trên 7.600 ha. Trong giai đoạn 2017-2020, diện tích đất rừng dự kiến vận động, khuyến khích người dân tự nguyện kê khai diện tích nương rẫy đang sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp là trên 4.300 ha, trong đó: UBND các xã thu hồi gần 4.000 ha và các đơn vị chủ rừng thu hồi 370 ha; diện tích dự kiến giao lại cho người dân trồng rừng có hưởng lợi là trên 4.100 ha và diện tích dự kiến thu hồi để trồng rừng là 470 ha. 

Tại buổi làm việc, các đại biểu đã nêu ra những khó khăn cũng như những nguyên nhân dẫn đến việc triển khai thu hồi đất rừng bị lấn chiếm. Theo đó, Krông Pa là huyện nghèo, người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, cuộc sống của người dân phần lớn phụ thuộc vào nương rẫy, trong khi đó, đa số diện tích nương rẫy của người dân được sản xuất trên đất lâm nghiệp. (Baogialai.com.vn 9/8) Về đầu trang

Tìm ra giải pháp hiệu quả chống nạn phá rừng

Trả tiền cho người dân trong những khu vực gần những cánh rừng để ngăn chặn nạn chặt rừng bừa bãi, trái phép là giải pháp tối ưu nhằm bảo vệ rừng.

Mới đây, nhóm các nhà nghiên cứu từ Mỹ, Hà Lan và Bỉ đã thử nghiệm kế hoạch này trong một khu vực có rừng thuộc Uganda. Họ chia ngẫu nhiên 121 làng trong khu vực thành hai nhóm. Nhân viên từ tổ chức từ thiện địa phương Chimpanzee Sanctuary, Wildlife Conservation Trust đã đến các ngôi làng của một nhóm và cung cấp cho chủ đất 28$ để đổi lấy 1 ha rừng. Sau khi kiểm tra để đảm bảo họ sẽ không chặt cây trong khu vực cam kết, những chủ hộ đồng ý sẽ nhận được khoản tiền. Các nhà nghiên cứu còn siết chặt việc kiểm tra bằng sự trợ giúp của hình ảnh vệ tinh và không liên lạc với các làng thuộc nhóm thứ hai để đảm bảo người dân không gian lận.

Kết quả công bố trên Tạp chí Science cho thấy, các làng thuộc nhóm không tham gia chương trình đổi tiền lấy rừng bị mất 9,1% diện tích cây trong giai đoạn nghiên cứu, trong khi những nơi đồng ý với hợp đồng chỉ mất 4,2%. Các nhà nghiên cứu đã tính rằng ở nơi họ trả tiền, hơn 180 tấn khí thải các bon đã bị ngăn chặn, nếu chia ra, số tiền họ trả cho 1 tấn các bon chỉ có 0,46$, rẻ hơn 10 - 20 lần so với mức giảm các bon có thể mua từ các dịch vụ thương mại như Cool Effect hay các bon Fund.

Có nhiều cách để lưu trữ các bon, nhưng chủ yếu là chuyển đổi các bon dioxit thành chất dinh dưỡng cho cây. Một số chất dinh dưỡng này sẽ được giữ trong vỏ và rễ, cho đến khi cây bị chặt đi. Một số khác lại đi vào các lá bị chôn trong đất và sẽ giữ các bon lại. Khi cây bị chặt, các bon sẽ giải phóng thông qua nhiên liệu đốt, suy thoái tự nhiên và các bon trong đất xung quanh cây bị chặt cũng sẽ được giải phóng.

Trong trường hợp khi người dân tham gia nghiên cứu cuối cùng vẫn chặt cây mà trước đó đã cam kết không chặt, thì lượng các bon được giải phóng vẫn chậm và ít hơn, hoàn toàn phù hợp với chi phí đưa ra. Là khí nhà kính, các bon dioxit hấp thụ và giữ nhiệt từ mặt trời, do đó, tác động của nó đến sự thay đổi khí hậu không chỉ được tính bởi lượng CO2 tuyệt đối trong bầu khí quyển và còn phải tính đến lượng nhiệt tích lũy trong khí. Con số trên được đưa ra để đo lường những ảnh hưởng tiêu cực của hiện tượng nóng lên trên toàn cầu do phát thải, nói cách khác, nó là chi phí xã hội của các bon.

Trong nghiên cứu của Uganda, các nhà nghiên cứu đã tính toán rằng giá trị thu được từ việc trì hoãn giải phóng các bon hơn khoảng 2,4 lần chi phí phải trả để giữ các bon lại trong thời gian dài hơn. (Vnreview.vn 9/8; Tapchimoitruong.vn 9/8) Về đầu trang

Hòa Bình: Toàn tỉnh trồng rừng đạt trên 75% kế hoạch

Thực hiện kế hoạch trồng mới 7.130 rừng năm 2017, các huyện, thành phố trong tỉnh đã tích cực chuẩn bị mặt bằng, nguồn nhân lực, phát dọn thực bì. Các cơ sở sản xuất giống chủ động gieo ươm, sản xuất cây giống lâm nghiệp các loại đảm bảo chất lượng. Đồng thời, tranh thủ thời tiết thuận lợi, các chủ rừng và dự án đẩy nhanh tiến độ trồng và bảo vệ rừng trồng theo kế hoạch.

Đến đầu tháng 8, toàn tỉnh đã trồng mới gần 5.400 ha rừng tập trung, đạt trên 75% kế hoạch năm. Các huyện có tiến độ trồng rừng nhanh là Kim Bôi đã trồng 1.068 ha, Lạc Thuỷ 870 ha, Lạc Sơn 700 ha, Đà Bắc 670 ha, Lương Sơn trên 660 ha…

 

Cùng với trồng mới, các huyện, thành phố đã thực hiện tốt công tác chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ rừng, giữ ổn định độ che phủ rừng. (Báo Hòa Bình Online 9/8) Về đầu trang

Thanh Hóa : Cảnh báo nguy cơ xảy ra cháy rừng ở các huyện từ cấp 2 tới cấp 4

Theo tin cảnh báo cháy rừng của Cục Kiểm lâm và thông tin dự báo thời tiết của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn TW, từ ngày 09/8/2017 đến ngày 14/8/2017 các huyện miền núi có mưa rải rác; các huyện đồng bằng, ven biển không mưa. Nguy cơ xảy ra cháy rừng ở các huyện từ cấp 2 tới cấp 4. Chi cục Kiểm lâm (Cơ quan thường trực BCĐ Kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thanh Hóa) đề nghị UBND cấp huyện, xã và các chủ rừng nhà nước thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng.

Các huyện: Tĩnh Gia, Hà Trung, TP.Thanh Hóa, Đông Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc. Dự báo cháy rừng cấp 4 (Cấp nguy hiểm), có nguy cơ xảy ra cháy rừng lớn, tốc độ lan tràn lửa nhanh. Đề  nghị thường xuyên kiểm tra nghiêm ngặt trên các vùng trọng điểm dễ cháy; lực lượng canh phòng phải thường xuyên trên chòi canh và ngoài hiện trường rừng, đảm bảo canh phòng 12/24 giờ (từ 9 đến 21 giờ trong ngày) nhất là các giờ cao điểm; phát hiện kịp thời điểm cháy, báo động và huy động lực lượng, phương tiện dập tắt ngay..

Các huyện: Như Thanh, Thạch Thành, Triệu Sơn, Dự báo cháy rừng cấp 3, dễ xảy ra cháy rừng.  Đề nghị thường xuyên kiểm tra trên các vùng trọng điểm dễ cháy, nhất là rừng trồng; tổ chức lực lượng tuần tra canh gác lửa rừng 10/24 giờ trong ngày (từ 10 giờ đến 20 giờ), đặc biệt chú trọng các giờ cao điểm; phát hiện kịp thời điểm cháy, báo động và huy động lực lượng, phương tiện dập tắt ngay.

Các huyện thị xã còn lại dự báo cháy rừng cấp 2 (Cấp cao), ít xảy ra cháy rừng. (Truyenhinhthanhhoa.vn 9/8) Về đầu trang

Rừng ơi!

Chỉ một trận lũ quét thôi mà đoạt mạng đến 8 người và làm mất tích hơn 23 người ở hai huyện Mường La (Sơn La) và Mù Cang Chải (Yên Bái) vào rạng sáng 3/8!

Hai Phiếm buồn lắm:

- Chỉ một trận lũ quét thôi mà đoạt mạng đến 8 người và làm mất tích hơn 23 người ở hai huyện Mường La (Sơn La) và Mù Cang Chải (Yên Bái) vào rạng sáng 3/8!

- Chả riêng Sơn La, Yên Bái, cứ vào mùa mưa lũ là sạt lở nặng, ngập to và kéo dài, làm chết người trong nhiều năm gần đây!

- Sao “ông trời” ác vậy?

 

- Chả có ông trời nào sất mà chỉ do các ông “con trời” gây ra! Đó là hậu quả nhãn tiền của tình trạng phá rừng đầu nguồn. Rừng có chức năng giữ nước, cân bằng sinh học, xưa “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, nay rừng đã bị phá rỗng ruột, hễ mưa xuống là bao nhiêu nước đổ tuột hết về đồng bằng, nói thiên tai cũng đúng mà gọi nhân tai cũng chẳng sai.

 U xơ tử cung - Một trong những nguyên nhân gây khó đậu thai, hiếm muộn Thoát nỗi khổ 23 năm Đờm ho, Khó thở, Hen suyễn

- Đúng là nạn phá rừng hầu như không được kiểm soát, như Thượng tướng Võ Trọng Việt - Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng-An ninh nói: “Tôi đi cả nước thấy rằng về cơ bản rừng đã phá hết rồi do nạn phá rừng, có lãnh đạo còn nói là đi nhìn bên ngoài xanh tốt nhưng bên trong viêm đại tràng nặng, vì cây quý ở trong bị rút hết”.

- Nhưng “từ rừng về thành phố” có bao nhiêu trạm kiểm soát mà sao lâm tặc qua được hết nhỉ?

- Lâm tặc lén lút phá rừng để lấy gỗ bán rồi các chủ đầu tư công khai phá rừng để làm thủy điện. Cả hai đều là kẻ thù trực tiếp của nền kinh tế và đời sống người dân ở hạ lưu.

- Ờ ờ… Hàng trăm thủy điện lớn nhỏ trên những vùng cao vì quản lý - điều hành kém và thường xuyên làm sai nguyên tắc vì chạy theo lợi nhuận. Nhiều khi kiếm cớ làm thủy điện để “kiếm” gỗ quý!

- Rõ là những đợt lũ quét hay những trận ngập lụt gây chết người, thiệt hại tài sản thời gian qua và hôm nay gây thiệt hại nhỡn tiền  mà còn là tiền đồ của đất nước mai sau.

- Chuẩn! Một quốc gia không thể phát triển, thậm chí không thể trụ vững nếu cứ ăn bám vào tài nguyên khoáng sản. Mà “ăn của rừng” thì “rưng rưng nước mắt”, như chúng ta đã thấy! (Sức Khỏe & Đời Sống Online 9/8) Về đầu trang

Thừa Thiên - Huế: Hiệu quả từ công tác giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số

Thời gian qua, tỉnh Thừa Thiên Huế xác định giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số là giải pháp quan trọng để bà con ổn định đời sống và thoát nghèo bền vững. Khi rừng được giao cho bà con quản lý, công tác bảo vệ rừng được bà con quan tâm hơn, rừng được phát triển tốt hơn.

Đến năm 2016, toàn tỉnh có 225 cộng đồng dân tộc thiểu số được giao đất, giao rừng để quản lý và sử dụng. Trong đó, có có 96 cộng đồng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Tổng diện tích rừng được giao cho đối tượng này là 20.254,17 ha chiếm 91,3% diện tích rừng được giao cho các cộng đồng trên toàn tỉnh. Diện tích rừng đã giao được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng là 11.933,92 ha. Trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao cho các cộng đồng quản lý trên phạm vi toàn tỉnh có khoảng 61% là rừng sản xuất và 36% là rừng phòng hộ.

Đối với việc giao đất, giao rừng cho hộ gia đình dân tộc thiểu số, đến năm 2016, toàn tỉnh có 2.954 hộ gia đình dân tộc thiểu số được giao đất, giao rừng. Trong đó có 2.892 hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao cho các hộ này là 3.176,69 ha.

Việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số và cho hộ gia đình dân tộc thiểu số đã giúp cho công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày một tốt hơn. Qua trao đổi với một số hộ gia đình và chính quyền địa phương sở tại, phần lớn các ý kiến đều cho rằng giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, nhóm hộ, hộ gia đình thì công tác quản lý bảo vệ rừng tốt hơn trước khi rừng chưa giao. Ý thức về bảo vệ rừng của các thành viên trong cộng đồng dân cư, hộ gia đình cao hơn, người dân trong thôn không chỉ cung cấp thông tin cho thôn, Trạm Kiểm lâm mà tự họ trực tiếp đấu tranh với kẻ xấu để bảo vệ rừng. Khi phát hiện các đối tượng vào khai thác gỗ, lâm sản, săn bắt, bẫy trái phép thú rừng, nhiều chủ rừng đã tích cực, chủ động phối hợp cùng lực lượng Kiểm lâm sở tại truy quét, ngăn chặn, hạn chế được hiện tượng người dân trong thôn đứng ngoài cuộc trong việc bảo vệ rừng như trước đây. Một số hộ bỏ công sức để theo dõi bắt được đương sự lấn chiếm rừng của mình. Hầu hết trong cộng đồng, nhóm hộ đều lập thành các tổ bảo vệ rừng, tổ chức đi tuần tra định kỳ hoặc đột xuất nhằm bảo vệ diện tích rừng được giao.

Từ nguồn hỗ trợ của các dự án, tổ chức phi Chính phủ, một số cộng đồng ở các huyện Phú Lộc, Phong Điền, A Lưới, Nam Đông đã nhận được hỗ trợ tài chính, nâng cao năng lực nhằm thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng. Đến nay, 73% diện tích rừng tự nhiên đã giao cho cộng đồng, nhóm hộ, hộ gia đình được chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đây là nguồn hỗ trợ tài chính thiết thực nhằm thúc đẩy các chủ thể nhận rừng có động lực quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng được giao.

Không chỉ quản lý, bảo vệ  rừng tốt hơn mà trữ lượng rừng được giao cho cộng đồng dân tộc thiểu số và cho hộ gia đình dân tộc thiểu số cũng được tăng lên rõ rệt. Điển hình như diện tích rừng giao cho thôn Thanh Tân tại huyện Phong Điền năm 2003 trữ lượng chỉ có 46m3/ha thì đến năm 2012 trữ lượng đạt 67m3/ha (tăng lên 27m3/ha).

Nhìn tổng quát, việc giao rừng tự nhiên cho các cộng đồng dân cư và hộ gia đình là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với thực tiễn quản lý rừng hiện nay. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt thì công tác này vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Luật bảo vệ và phát triển rừng chưa công nhận cộng đồng là “chủ rừng”; người dân chưa được hưởng nhiều lợi ích kinh tế từ việc quản lý bảo vệ rừng...

Đối với những tồn tại, hạn chế như trên, Theo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thừa Thiên Huế, thời gian tới cần có một số thay đổi về chính sách và quy định. Cụ thể, cần công nhận cộng đồng dân cư là chủ rừng và được quyền cho thuê dịch vụ môi trường rừng; Cần có Quy định việc xây dựng quy chế quản lý rừng cộng đồng và có chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng. Đối với hộ gia đình, cá nhân thì cần bổ sung quy định về giao rừng cho nhóm hộ gia đình cho phù hợp với thực tiễn quản lý. Về chính sách thì cần sớm sửa đổi Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp theo hướng áp dụng cho cả đối tượng là nhóm hộ, cộng đồng dân cư.

Theo kế hoạch phát triển nông nghiệp bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới  tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2017-2020 thì diện tích đất có rừng toàn tỉnh đến năm 2020 đạt khoảng 293.240 ha, trong đó, diện tích rừng sản xuất 128.435 ha. Với nhiều chương trình phát triển rừng của tỉnh cùng với việc làm tốt công tác  giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số, tin tưởng rằng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ ngày càng được bảo vệ và phát triển, đời sống của bà con dân tộc thiểu số sẽ ngày càng khởi sắc hơn, góp phần đưa các huyện miền núi của tỉnh sớm về đích trong xây dựng nông thôn mới. (Thuathienhue.gov.vn 9/8) Về đầu trang

Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong: Huyện Cần Giờ phải bảo vệ cho được rừng sinh quyển

Chiều 9/8, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong đã có buổi làm việc với UBND huyện Cần Giờ về tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội, ngân sách, quốc phòng - an ninh 7 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm.

Báo cáo tại buổi làm việc, đồng chí Lê Minh Dũng, Chủ tịch UBND huyện Cần Giờ cho biết: Trong 7 tháng đầu năm, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện ước đạt 231 tỷ đồng, tăng 2% so với cùng kỳ; doanh thu bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ đạt 6.243 tỷ đồng, tăng 12%; thu ngân sách nhà nước đạt 102,3 tỷ đồng, tăng 88%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 315 tỷ đồng, tăng 2,3 lần. Các hoạt động giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa thể thao được triển khai theo kế hoạch; an sinh xã hội được đảm bảo, các chính sách trợ cấp cho người có công, hỗ trợ hộ nghèo, đặc biệt là hỗ trợ vốn vay cho hộ nghèo phát triển sản xuất, thoát nghèo được quan tâm kịp thời; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; quốc phòng an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội ổn định.

UBND huyện Cần Giờ đã kiến nghị UBND TP và các sở - ngành TP đẩy nhanh tiến độ dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng Bến phà Bình Khánh; duy tu, sửa chữa tuyến đường Rừng Sác; chấp thuận giao kế hoạch vốn đầu tư xây dựng năm 2017 từ nguồn vốn ngân sách phân cấp để triển khai kế hoạch sửa chữa các trường học dịp hè năm 2018 phục vụ cho năm học 2018 - 2019; chỉ đạo sớm ban hành định mức duy tu các công trình kè thủy lợi để kịp thời nâng cấp, tu bổ các công trình thủy lợi, kè đá chắn sóng, sạt lở bảo đảm phòng, chống, hạn chế các tác động của triều cường, xâm nhập mặn do nước biển dâng ở các khu dân cư và khu vực sản xuất; đồng thời sớm bố trí vốn sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi. Mặt khác, xem xét chỉ đạo giải quyết tỷ lệ hao hụt nước sạch tại các trạm cấp nước hoạt động theo phương án bù giá nước sạch trên địa bàn; chưa tăng giá nước bán sỉ qua đồng lên 5.000 đồng/m3 cho đến hết năm 2017…

Phát biểu kết luận buổi làm việc, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong đánh giá cao những kết quả đạt được của huyện Cần Giờ trong 6 tháng đầu năm; yêu cầu UBND huyện tập trung điều hành quyết liệt để thực hiện đạt chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 theo Nghị quyết HĐND huyện. Đồng chí lưu ý việc triển khai các dự án đầu tư phải cân nhắc vì sắp tới sẽ triển khai đồ án quy hoạch xây dựng Cần Giờ trở thành khu du lịch, nghĩ dưỡng, giải trí. Việc phát triển huyện phải bảo vệ cho được rừng sinh quyển nhằm giữ lá phổi xanh của TP. Dù trong 7 tháng đầu năm, lượng khách du lịch đến Cần Giờ tăng 44% so với cùng kỳ và chiếm 25% lượng khách du lịch đến TP, nhưng doanh thu chỉ chiếm 0,54%. Vì vậy, huyện phải có giải pháp tạo giá trị gia tăng doanh thu du lịch; tạo sản phẩm du lịch đặc thù để khách du lịchlưu trú. Bên cạnh đó, có giải pháp nâng mức thu nhập bình quân đầu người, tập trung giải ngân vốn đầu tư; chú ý bảo vệ môi trường.

Để phục vụ nhu cầu đi lại, trước mắt TP bố trí nguồn vốn duy tu tuyến đường Rừng Sác; nâng cấp mở rộng Bến phà Bình Khánh; có chế độ chính sách hỗ trợ giáo viên, cán bộ y tế tham gia công tác trên địa bàn huyện. (Tuổi Trẻ 10/8, tr7; Hcmcpv.org.vn 9/8) Về đầu trang

Tuyên Quang: Phạt tù 2 đối tượng hủy hoại rừng

TAND huyện Chiêm Hóa vừa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lưu động tại xã Kiên Đài 2 vụ án hình sự về tội hủy hoại rừng đối với các bị cáo Đặng Văn Hợi, sinh năm 1983 và bị cáo Đặng Văn Xuân, sinh năm 1971 cùng trú tại thôn Khuổi Chỉa, xã Kiên Đài về tội “Hủy hoại rừng”.

Theo cáo trạng của Viện KSND huyện, các đối tượng trên có hành vi chặt phá rừng sản xuất thuộc UBND xã Kiên Đài quản lý. Bị cáo Hợi đã hủy hoại 6.230 m2 rừng, làm thiệt hại 27 cây gỗ từ nhóm 5 đến nhóm 8 với tổng khối lượng 6,772 m3 và 1.370 cây vầu có tổng giá trị 7.352.100 đồng; bị cáo Xuân, hủy hoại là 5.348 m2, gồm 33 cây gỗ từ nhóm 5 đến nhóm 8 có khối lượng 5,363 m3, 886 cây vầu, tổng giá trị thiệt hại là 5.359.500 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 189; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Đặng Văn Hợi 7 tháng tù, bồi thường 7.352.100 đồng; bị cáo Đặng Văn Xuân 6 tháng tù, bồi thường 5.359.500 đồng và tịch thu toàn bộ tang vật phạm tội. (Baotuyenquang.com.vn 9/8) Về đầu trang

Cà Mau: Ra quân trồng rừng phòng hộ

Ngày 08/8, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ Biển Tây tổ chức ra quân trồng rừng thuộc Dự án trồng rừng ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trong ngày đầu ra quân, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ Biển Tây đã trồng được khoảng 05 ha rừng, chủ yếu là cây đước. Dự kiến trong 10 ngày tới sẽ trồng xong diện tích đã ban gạt. (Ctvcamau.vn 9/8) Về đầu trang

Quảng Ngãi: Giữ rừng với mức lương… 1.000 đồng/ngày

Còn một năm nữa là ông tròn 40 năm canh giữ cánh rừng nguyên sinh rộng 36ha nằm cạnh quốc lộ 24B. Chừng ấy thời gian, người cựu binh già vẫn miệt mài giữ “thành lũy” xanh cuối cùng giữa đồng bằng.

Ông là Trần Đức Minh (65 tuổi), người ngăn chặn nhiều đợt tấn công của lâm tặc ở núi Nhàn (xã Tịnh Sơn, H.Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi).

Đứng từ cánh đồng lúa Tịnh Sơn nhìn về ngôi làng tựa lưng vào cánh rừng xanh một màu nguyên thủy, đó là núi Nhàn. Ở đất này, ai cũng biết cánh rừng ấy còn đến ngày hôm nay, công lớn thuộc về ông Minh. Người già, con nít nào trong làng cũng có thể kể về ông.

Những năm 1970, chiến tranh diễn ra ác liệt. Ông Minh cũng như những thế hệ trai tráng Tịnh Sơn cầm súng ra trận chiến đấu. Những cuộc sinh tử chồng chất trong chiến cuộc dài ra từng ngày. Ông và đồng đội chọn núi Nhàn làm căn cứ.

Ở dưới đồng bằng có thể bị truy đuổi nhưng khi lên đến núi Nhàn thì quân địch chỉ có khiếp vía. “Từng gốc cây, tảng đá trở thành nơi để chúng tôi trú ngụ, thoát khỏi những trận mưa bom bão đạn của giặc. Cái ân tình ấy mãi đến sau này vẫn không thể nào quên” – ông Minh tâm sự.

Hòa bình lập lại, năm 1978 ông Minh trở về quê, vừa là thương binh vừa là bệnh binh. Sự gan dạ của ông khiến cấp trên đề bạt ông giữ chức xã đội trưởng xã Tịnh Sơn. Hòa bình, và ông chọn làng An Ngọ dưới chân núi Nhàn làm nơi sinh sống.

Ở dưới chân ngọn núi từng đưa “tấm lưng” ra che chắn cho ông và đồng đội trong cuộc chiến thoát khỏi lằn sinh tử ấy, lâu lâu ông Minh lại nghe tiếng rựa, rìu xé toạc một góc trời. Thế là mình ông vác rựa lên núi.

Nhìn những thân cây ứa nhựa, ông Minh đau đớn: “Nhựa cây như máu của đồng đội ngã xuống, tôi tự hỏi trong chiến tranh cánh rừng này bom đạn hủy hoại không nổi mà giờ hòa bình sao lại bị tàn phá. Thế là tôi quyết truy đuổi lâm tặc ra khỏi rừng”.

Bà Nguyễn Thị Xuân, vợ ông Minh, cũng là người đồng đội một thời, hiểu rõ tâm nguyện của ông. Bà Xuân nhớ lại cái ngày ông từ núi Nhàn về cách đây gần 40 năm, bỏ cả cơm nước, mặt buồn xo.

“Tôi gặng hỏi mãi anh Minh mới bảo núi Nhàn bị tàn phá cả vạt lớn, cứ thế này thì đến một ngày sẽ không còn rừng nữa. Anh nói phải bảo vệ cho được rừng để đồng đội an giấc mà làng lại có được nơi giữ nước để có cái ăn” – bà Xuân kể.

Thời gian chạy qua như một trận bão, chớp mắt chàng thanh niên ngày nào đã trở thành ông già ngoài lục tuần. Trong từng nếp nhăn chằng chịt trên khuôn mặt, có biết bao sự kiện ông phải nhớ, nhưng núi Nhàn vẫn là tâm điểm.

“Lâm tặc lúc đó là người dân, họ đốn cây làm nhà hoặc làm chất đốt, nên tôi đến từng nhà khuyên can. Có người nói không đốn rừng lấy gì ăn. Tôi liền khuyên giữ lại rừng mới là kế sinh nhai lâu dài, bà con đốn mãi rừng cũng hết mà nguồn nước cạn kiệt thì lấy gì trồng lúa” – ông Minh nhớ lại.

Thế rồi, dấu chân ông hết in từng gốc cây, tảng đá núi Nhàn, lại in dọc làng để đi thuyết phục dân, giữ cho ngọn núi thôi tiếng rựa rìu.

Nhưng khi người làng đã biết nghĩ đến cái lâu dài, thôi phá rừng thì lâm tặc ở khắp nơi mò đến. Rừng lại ở ngay quốc lộ nên trở thành miếng mồi ngon. Chỉ chừng 15 phút là một cây rừng sẽ bị đốn hạ, chuyển lên xe chở đi.

Chính vì thế cuộc chiến giữ rừng trở nên cam go hơn. Người dân thấy công sức ông Minh bỏ ra bảo vệ núi, bảo vệ rừng không công nên ai cũng quý, chính họ dần trở thành các kênh thông tin, mỗi lần có người lạ lên núi Nhàn, họ lập tức báo cho ông, cùng ông bảo vệ rừng.

Từ ngày tình nguyện giữ rừng, trên cơ thể ông thêm những vết thương do té ngã. Lần thì ông đuổi một nhóm lâm tặc vừa vào rừng đốn cây, trong cuộc truy đuổi đơn thương độc mã ấy, ông vấp phải chính gốc cây lâm tặc đốn, ngã nhào, máu chảy đầy chân.

Khi người làng chạy đến nơi đã thấy ông nằm đó, người tiếp tục truy đuổi, người đưa ông đi cấp cứu. Nể phục ông Minh, thêm hai người lính già tình nguyện cùng ông giữ rừng. Thế là ông có một đội giữ rừng. Hai người bạn thời chiến, phong ông làm đội trưởng, họ là đội viên tổ giữ rừng núi Nhàn.

Ông Lê Cao Hùng, người lính đặc công năm xưa bây giờ không còn giữ rừng nữa và nhường trách nhiệm ấy cho con trai, tâm sự: “Chúng tôi chưa bao giờ khoan nhượng cho lâm tặc cả. Thời tôi còn trong tổ bảo vệ, bất kể đêm khuya, chỉ cần nghe người dân báo tin có người lạ vào rừng là cả ba lập tức lên núi truy đuổi”

Màu xanh ngút ngàn của núi Nhàn hôm nay cũng trải qua những câu chuyện đáng nhớ. Vào một buổi xế chiều cách đây hơn 20 năm, tổ bảo vệ vây một lâm tặc vào trong hang đá. Bí thế, lâm tặc trèo lên tảng đá, tay cầm rựa hung hăng bảo ai vào sẽ chém.

Ông Minh không nói không rằng lao thẳng vào đối tượng. Cả hai vật lộn, sẵn có tí võ khi còn trong quân ngũ, ông Minh né những nhát rựa của kẻ phá rừng và ra đòn khóa tay. “Lúc này hai ông bạn cũng lao vào hỗ trợ trói tay tên lâm tặc.

Lúc bị áp giải xuống núi, tên này gào lên: “Tao trời đánh không chết, sợ chi ba thằng bọn mày”. Tôi nói: “Súng thằng Mỹ bắn tao còn không chết thì sợ gì cái rựa của mày, mà tao có chết thì núi Nhàn phải còn”” – ông kể.

Anh Lê Cao Hoàng, con trai ông Hùng, người thay cha tiếp tục theo ông Minh giữ rừng núi Nhàn, cho biết núi Nhàn có địa hình thoai thoải, nằm lọt thỏm giữa các xóm làng. Phía tây giáp núi Diên Niên, phía đông giáp xóm làng thôn An Thọ, phía nam giáp sông Trà Khúc, phía bắc giáp núi Đá Ngựa xã Tịnh Bình.

Trên núi có nhiều loại cây, có cây lớn cả người ôm, phía dưới có nhiều loài dây leo chằng chịt… Đây cũng là điểm trú ngụ của nhiều loại chim cu đất, chích chòe, hồng tước…

“Nhờ tâm huyết giữ rừng gần 40 năm qua mà suối Chình nước vẫn đầy quanh năm và là nơi trú ngụ của biết bao loài vật. Nhất là ong rừng đến mùa người dân tha hồ lấy mật” – anh nói.

Nhưng ong và muông thú vô tình lại trở thành một mối lo cho người giữ rừng. Ông Minh bây giờ không còn sợ lâm tặc nữa bởi tiếng tăm giữ rừng của tổ bảo vệ rừng khiến những ai nhăm nhe đến núi Nhàn chặt cây phải chùn chân.

Và hơn hết ông có một vành đai dân cư xung quanh không để người lạ xâm phạm núi Nhàn khi chưa xin phép. Mối lo lớn nhất của ông Minh là từ những người đồng bào dân tộc thiểu số từ H.Sơn Hạ xuống săn thú và tìm ong.

Ông bảo chỉ cần phát hiện chồn trên cây là họ sẵn sàng đốn hạ một vạt rừng để giăng lưới phía còn lại rồi đốn cây để con chồn hoảng quá chạy vào bẫy. Còn đốt ong thì sợ nhất là lửa gây cháy rừng.

“Tới mùa ong là anh em mang cơm ăn ngủ trong rừng, phát hiện người săn ong mật là tới nói thẳng. Cho bắt nhưng phải hết sức cẩn trọng và cấm đụng đến rừng và phải có người canh giữ để không cho tàn lửa rơi xuống lớp lá cây khô phía dưới. Tôi nói là họ nghe” – ông Minh chắc nịch.

Đi cùng ông Minh vào núi Nhàn, một quy tắc bất di bất dịch là không hút thuốc, không dùng đến lửa. Gặp một phụ nữ đang mang bó củi khô từ rừng ra, ông Minh nở nụ cười thăm hỏi rồi nói: “Người dân vào rừng cũng chỉ lấy những thân khô về làm củi, không ai chặt cây tươi. Ý thức giữ rừng của bà con là số một”.

Người phụ nữ cười tươi đáp lời: “Anh Ba (ông Minh) giữ rừng mấy chục năm, tụi tui không phụ công anh đâu”. Chúng tôi hỏi mỗi tháng ông nhận được bao nhiêu lương, ông xua tay bảo: “Giữ rừng đừng nói chuyện lương. Lương nào bằng lương tâm”.

Rồi ông tâm sự: “Xã thấy tôi giữ rừng không công mãi nên cũng quý. Đến năm 2004, tổ giữ rừng nhận hỗ trợ mỗi năm 700.000 đồng. Đến năm 2011 nâng lên 1 triệu đồng, chia cho ba người thì chưa đến 1.000 đồng/ngày/người”.

Ông cười khà khà nói: “Lương vậy thôi, nhưng mỗi người được xã hỗ trợ thêm cho ba sào lúa, ai làm giỏi thì có lúa ăn. Vậy là vui rồi”.

Ông bảo giờ sức khỏe yếu rồi, đi rừng nhiều cũng đau chân. Nhiều lần xin nghỉ nhưng UBND xã Tịnh Sơn động viên mong ông tiếp tục giữ rừng. Bản thân ông cũng đang cố tìm người kế cận đủ tin tưởng để giao cánh rừng nguyên sinh giữa đồng bằng này lại. (Tuổi Trẻ Online 9/8) Về đầu trang

Tận mắt chứng kiến hệ thống bẫy thú giăng mắc trong Vườn Quốc gia

Thực tế cho thấy, chưa khi nào động vật trong vườn quốc gia này được an toàn và đa dạng sinh học thì đang từng ngày giảm sút.

Với tổng diện tích trên 56.000ha, cùng với hệ thực vật phong phú, Vườn Quốc gia Chư Mom Ray ở tỉnh Kon Tum có trên 600 loài động vật, trong đó có 15 loài thú đặc hữu Đông Dương.

Để bảo vệ được đa dạng sinh học, xứng đáng với danh hiệu di sản ASEAN, những năm qua Ban quản lý Vườn Quốc gia Chư Mom Ray cũng như chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc ngăn chặn nạn săn bắt trộm để bảo vệ các loài động vật hoang dã. Tuy nhiên thực tế cho thấy, chưa khi nào động vật trong vườn quốc gia này được an toàn và đa dạng sinh học thì đang từng ngày giảm sút.

gian nan bao ve dong vat hoang da o vuon quoc gia chu mom ray hinh 1

Một đối tượng săn bắt thú hoang dã bị bắt.

Chỉ trong hơn 3 tháng vừa qua, cán bộ nhân viên Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Chư Mom Ray thu gỡ được trên 2.000 bẫy thú các loại. Có vào trong rừng, tận mắt chứng kiến hệ thống bẫy thú giăng mắc tinh vi sẵn sàng cùm chân, thít cổ từ loài thú lớn móng guốc đến sóc, thỏ hiền lành… mới thấy việc bảo vệ động vật hoang dã ở vườn quốc gia này hết sức gian nan.

Lần theo hệ thống bẫy thú dài cả cây số mà các đối tượng săn bắt mới cài đặt, anh Rơ Manh Tý, nhân viên Trạm Đăk Tao, Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Chư Mom Ray giải thích: “Họ rào kín không có đường đi nên con thú sẽ đi vào chỗ có bẫy. Anh em trong đơn vị cũng phải thường xuyên đi rừng để kiểm tra gỡ bẫy, càng ngày người ta làm càng nhiều”.

Đối tượng săn bắt động vật hoang dã trái phép ở Vườn quốc gia Chư Mom Ray có hai dạng, một là những kẻ đi săn chuyên nghiệp và hai là người dân bản địa vốn coi việc săn bắt thú như một phần văn hóa từ đời xưa. Ông Đào Xuân Thủy, Phó giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Chư Mom Ray cho biết, hoạt động săn bắt thú rừng đang gây ra sự giảm sút rất nhanh đa dạng sinh học của vườn. Để ngăn chặn việc các loài thú trở thành hàng hóa, thành món ăn trên bàn tiệc, đơn vị đã phải căng sức tuần tra, kiểm soát mong hạn chế thấp nhất số lượng thú bị dính bẫy: .

Ông Đào Xuân Thủy cho biết: “Chúng tôi giao nhiệm vụ chính cho lực lượng kiểm lâm các Trạm địa bàn. Hàng ngày, hàng tháng phải đi ở trong rừng tuần tra kiểm soát và gặp những đường bẫy phải tháo gỡ làm sao hạn chế đến mức thấp nhất những con thú bị săn bẫy. Mặt thứ hai, chúng tôi tăng cường kiểm tra phát hiện vi phạm để xử lý và tổ chức các đợt tuyên truyền trong các cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ rừng nói chung trong đó có bảo vệ các loài động vật hoang dã”.

Mặc dù đã tổ chức hàng nghìn cuộc tuần tra, truy quét, triển khai chốt chặn tại những điểm nóng các đối tượng đột nhập săn bắt thú rừng, như khu vực đồng cỏ ở thung lũng Ya Book, trên tuyến quốc lộ 14C, các tỉnh lộ gần vườn và đi qua vườn song tình trạng săn bắt thú rừng ở Vườn Quốc gia Chư Mo Ray không những không giảm mà còn ngày càng nóng hơn. Nếu như trong hơn 2 năm, từ 2014 đến hết tháng 5/2016 cán bộ nhân viên ở đây thu gỡ được trên 1.800 bẫy thì chỉ trong khoảng 4 tháng vừa qua, con số này đã lên tới trên 2.000 bẫy thú các loại. Bởi vậy song song với biện pháp ngăn chặn việc săn bắn thú rừng tại chỗ, Ban quản lý Vườn Quốc gia Chư Mom Ray và chính quyền các huyện: Sa Thầy, Ngọc Hồi, Ia H’Drai của tỉnh Kon Tum đã phải phối hợp ngăn chặn từ xa.

Ông Đào Văn Mạnh, Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Sa Thầy, cho biết: “Hạt đã có giải pháp như chỉ đạo cho kiểm lâm địa bàn dưới các xã có vùng giáp ranh với diện tích của Vườn quốc gia Chư Mom Ray tăng cường công tác tuyên truyền vận động cho người dân không được săn bắt động vật hoang dã. Đã tổ chức ký cam kết đối với tất cả các nhà hàng trên địa bàn thị trấn Sa Thầy không được mua bán, sử dụng động vật hoang dã. Tăng cường công tác tuần tra truy quét đặc biệt là chú trọng vào ngày nghỉ và ban đêm”.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, Vườn Quốc gia Chư Mom Ray ở tỉnh Kon Tum nằm ở vị trí ngã ba Đông Dương. Phía Tây Bắc tiếp giáp với Khu bảo tồn thiên nhiên Đông An Pha của nước bạn Lào. Phía Tây tiếp giáp với Vườn Quốc gia Vinachay của Vương quốc Campuchia. Vị trí này cộng với hệ động thực vật phong phú sẵn có tạo cho Chư Mom Ray tiềm năng lớn về mọi mặt để cấu thành một vùng bảo tồn thiên nhiên hoang dã lớn mang tầm quốc tế với hệ sinh thái điển hình khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên nếu không ngăn chặn được triệt để nạn săn bắt thú rừng trái phép như hiện nay, thì chắc chắn trong tương lai không xa nguồn tài nguyên tự nhiên của Chư Mom Ray sẽ bị tổn thương nghiêm trọng. (VOVNews 10/8) Về đầu trang

Kon Tum: Đánh đổi hàng trăm héc ta rừng thông để trồng mắc ca

Hàng trăm héc ta rừng thông có độ tuổi khoảng 20 năm tại huyện Kon Plông, Kon Tum – nơi được mệnh danh là Đà Lạt thứ 2 đang bị phá bỏ, lấy đất cho doanh nghiệp trồng cây mắc ca.

Rừng thông bị phá nói trên nằm tại khoảnh 8, 9, 12, 13 thuộc tiểu khu 481, xã Đăk Long, huyện Kon Plông.

Theo đó, UBND tỉnh Kon Tum có quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp (đất rừng sản xuất) sang đất trồng cây lâu năm để cho Công ty TNHH Đăng Vinh (Tp. Quy Nhơn, Bình Định) thuê đất nhằm triển khai dự án án trồng cây mắc ca với thời hạn là 50 năm.

Tổng diện tích đất rừng là 198 ha, trong đó Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Kon Plông quản lý 187 ha (đất có rừng gỗ trồng là 117 ha, còn lại là không có rừng), UBND xã Đắk Long quản lý 11,16 ha (đất có rừng gỗ trồng là 5,3 ha, còn lại không có rừng).

Ghi nhận tại các cánh rừng thông nằm 2 bên QL24 cách không xã khu du lịch sinh thái Măng Đen, rừng thông bị phá bỏ, cây cắt sát đất, cành nhánh vứt rải rác. Những vết hằn sâu xuống đất của bánh xe ba càng vào vận chuyển gỗ đi tiêu thụ càng làm khu rừng thêm tan hoang.

Theo ông A Bít- Trưởng thôn Kon Chốt, xã Đắk Long, trước đây khu rừng thông này là đồi trọc, sau đó có chủ trồng rừng thông, người dân cũng tham gia chăm sóc, trông coi. Rừng thông cũng là bóng mát, chắn gió cho thôn Kon Chốt, giờ rừng thông bị phá bỏ trong làng ai cũng tiếc nuối.

Ông Bùi Thanh Phong- Chánh văn phòng UBND huyện Kon Plông cho biết: Số diện tích rừng chuyển đổi sang trồng mắc ca trên địa bàn là rừng thông trồng. Trong dự án chuyển đổi rừng thông sang trồng mắc ca, huyện chỉ có vai trò giới thiệu đất và địa điểm.

“Chủ trương của tỉnh cũng như huyện để phát triển kinh tế chủ yếu tập trung vào diện tích rừng được phép chuyển đổi, trong đó chủ yếu là rừng thông và một số diện tích đồi trọc”, ông Phong nhấn mạnh. (Giáo Dục & Thời Đại Online 10/8) Về đầu trang

Vụ buôn lậu hơn 500m3 gỗ trắc tại Quảng Trị: Luật sư khẳng định không thể trả hồ sơ điều tra

Ngày 9/8, TAND TP Đà Nẵng tiếp tục phần đối đáp tranh luận giữa đại diện VKS với các LS và bị cáo trong vụ án Công ty TNHH MTV Ngọc Hưng (Khóm Trung Chín, TT Lao Bảo, Hướng Hóa, Quảng Trị) buôn lậu hơn hơn 500m3 gỗ trắc.

Tại phiên xét xử hôm nay, các bị cáo tiếp tục đưa ra các chứng cứ chứng minh mình vô tội. Trong đó, bị cáo Liệu đặt ra 7 vấn đề và đề nghị đại diện Cục Điều tra chống buôn lậu giải đáp, tuy nhiên đại diện đơn vị này vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Ngoài ra, tại phiên tòa nhiều câu hỏi tiếp tục được đặt ra đối với VKS.

Theo đó VKS trả lời: "Về Kết luận số 783 đã nói nhiều lần rồi rằng nó được hình thành từ quyết định trưng cầu số 01 của C44 cho Viện sinh thái theo quy định của tố tụng còn việc kết luận nội dung 783 như thế nào và căn cứ vào đâu thì giám định viên của Viện sinh thái có trách nhiệm giải thích theo chuyên môn".

VKS viện dẫn, từ 2013 đến 5/2016, Viện sinh thái đã cung cấp trên 80 bộ giám định ở trên khắp đất nước liên quan đến động thực vật và các kết quả đều được công nhận. Trong đó có nhiều tòa án các tỉnh, thành phố lấy làm cơ sở giải quyết vụ án và tại Đà Nẵng đã ít nhất 1 lần sử dụng kết quả của Viện này để xét xử vụ án buôn bán ngà voi.

Cũng theo lời đại diện VKS, hôm nay là ngày thứ 6 diễn ra phiên tòa xét xử nhưng vẫn chưa xong phần tranh luận, các ý kiến nhiều và hết sức dân chủ, công bằng. Tội danh trong phát biểu tranh luận lần 1 đã nói rõ về hồ sơ nhập, xuất, tờ khai hải quan, đối chiếu hàng hóa thực tế với tờ khai, lời khai các công chức hải quan tại các cửa khẩu. Những vấn đề còn lại có liên quan mà các LS đề cập, bị cáo yêu cầu tại hồ sơ đến giờ chưa được thể hiện đầy đủ nên VKS chưa trả lời được.

Tuy nhiên, đại diện VKS cho rằng quan điểm của mình chân thực và mang đầy thiện chí, mong các LS ghi nhận. “Kết luận cơ quan tố tụng là đúng hay sai, các bị cáo đúng hay sai do hội đồng xét xử kết luận, quyết định”, đại diện VKS cho hay.

Các LS ghi nhận thiện chí của VKS, tuy nhiên những vấn đề còn lại LS nêu, bị cáo yêu cầu VKS vẫn chưa trả lời hoặc không trả lời được cho nên vấn đề chưa được giải quyết một cách thỏa đáng. Đối với việc đề nghị HĐXX trả hồ sơ điều tra bổ sung của đại diện VKS, các LS cho rằng là điều không thể bởi nó trái với quy định của pháp luật vì vụ án đã qua 2 lần trả hồ sơ, phiên tòa lần này đã qua phần tranh luận, đề nghị khung hình phạt đối với các bị cáo.

Các LS giữ nguyên quan điểm, đề nghị HĐXX tiếp tục phiên tòa và tuyên các bị cáo vô tội. Phiên tòa kết thúc phần tranh luận, lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi HĐXX nghị án, một lần nữa 5 bị cáo khẳng định bị oan và đề nghị HĐXX tuyên vô tội.

Phiên tòa sẽ được tiếp tục vào thứ 2 ngày 14/8. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/8, tr19; Công Lý Online 9/8) Về đầu trang

Sóc Trăng trồng rừng phòng hộ ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu

Thiết thực chào mừng kỷ niệm Quốc khánh 2/9 và tạo khí thế thi đua sôi nổi trong thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, ngày 8/8/2017, hơn 100 đoàn viên thanh niên Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng cùng đồn biên phòng xã An Thạnh 3, Đoàn xã An Thạnh Nam,… trồng 2 ha bần ở xã đảo An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung với mật độ 2.500 cây/ha.

Đây là hoạt động nhằm hưởng ứng “Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè năm 2017” và góp phần tăng diện tích rừng phòng hộ ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu. (Tin Tức 10/8, tr14) Về đầu trang

Đồng Nai: Lên phương án bảo vệ đàn voọc trên núi Chứa Chan

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai, hiện đơn vị này đã hoàn thiện phương án (đề án) bảo vệ đàn voọc chà vá chân đen trên núi Chứa Chan (thuộc huyện Xuân Lộc, Đồng Nai). Tới đây, ngành nông nhiệp sẽ trình phương án bảo vệ lên Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai để xem xét, phê duyệt. (Tài Nguyên & Môi Trường 10/8, tr7; Đại Biểu Nhân Dân 10/8, tr7) Về đầu trang

Cây cu li đang bị khai thác quá mức

Do nhu cầu thu mua của thương lái Trung Quốc trong thời gian gần đây, hàng trăm ha cây cu li (Cibotium) và cây máu chó (Huyết đằng) trong Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh thuộc huyện Đắk Lây, tỉnh Kon Tum đang bị Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk Lây khai thác rầm rộ với số lượng lớn. (Đại Đoàn Kết 10/8, tr14) Về đầu trang./.