TOÀN VĂN DIỄN VĂN LỄ KỶ NIỆM LÂM NGHIỆP VIỆT NAM 75 NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Cập nhật ngày : 30/11/2020 12:08

 

Cách đây 75 năm, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 01/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 69, thành lập Bộ Canh nông; cũng trong ngày này, Bộ Canh nông đã ban hành Nghị định số 01 về tổ chức Bộ Canh nông, trong đó quy định nhiệm vụ của Nha Lâm chính: “Làm các việc hành chính và chuyên môn về rừng rú và săn bắn”, đây là sự kiện lịch sử đánh dấu sự hình thành của ngành Lâm nghiệp cách mạng Việt Nam.

Trải qua 75 năm xây dựng và phát triển gắn với các giai đoạn lịch sử cách mạng của dân tộc, ngành Lâm nghiệp có những biến động về cơ cấu tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị từng giai đoạn:

- Ngày 28/4/1960, Thường trực Quốc hội quyết nghị tổ chức lại Bộ Nông Lâm thành 4 Bộ và Cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ gồm: Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường, Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng cục Thủy sản.

- Năm 1976, Quốc hội quyết nghị thành lập Bộ Lâm nghiệp trên cơ sở tổ chức lại Tổng cục Lâm nghiệp.

- Ngày 01/11/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 73/CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở hợp nhất Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Bộ Thủy lợi.

- Ngày 25/01/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 04/2010/QĐ-TTg thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Lâm nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Mặc dù  hệ thống tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp có thay đổi, nhưng với tư cách là ngành kinh tế - xã hội, Lâm nghiệp nước ta luôn được sự chăm lo chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, củng cố và hoàn thiện từ Trung ương đến địa phương; hệ thống các Viện nghiên cứu, trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp Lâm nghiệp được ra đời, phát triển khá toàn diện; với chủ trương nhất quán về xã hội hóa lâm nghiệp, ngành Lâm nghiệp đã và đang vận hành theo cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa với đa dạng các thành phần kinh tế cùng với hàng triệu chủ rừng là các hộ gia đình cộng đồng dân cư.

75 năm qua, ngành Lâm nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phát triển đất nước, thể hiện qua các giai đoạn của lịch sử:

 - Giai đoạn từ 1945 - 1975: Cả nước thực hiện chiến lược là kháng chiến chống Pháp thành công; xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ngành Lâm nghiệp tập trung đẩy mạnh khai thác gỗ, lâm sản để phục vụ cho kháng chiến; cung cấp cho nền kinh tế phục hồi sau chiến tranh, đáp ứng nhu cầu dân sinh và nguyên liệu cho sản xuất tiểu thủ công nghiệp.

Địa bàn rừng núi là chiến khu trong các cuộc kháng chiến “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, đã góp phần tạo nên chiến thắng oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhằm hủy diệt những khu rừng, căn cứ và chặn mạch máu hậu phương chi viện sức người, sức của từ miền Bắc cho tiền tuyến anh dũng miền Nam, quân đội Mỹ đã rải xuống miền Nam và miền Trung Việt Nam hàng triệu lít hóa chất, chất độc da cam gây thiệt hại trên 2 triệu ha rừng, những hậu quả này vẫn còn ảnh hưởng đến nay ở nhiều địa phương.

Ngay trong những lúc khó khăn nhất của đất nước, Đảng, Nhà nước ta đã chỉ đạo ngành Lâm nghiệp và toàn dân thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo tầm nhìn chiến lược “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” và phát động “Tết trồng cây” vào năm 1960. Pháp lệnh quy định về bảo vệ rừng được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1972 mở ra một chương mới về quản lý rừng bằng pháp luật.

 - Giai đoạn 1976 - 1995: Trong giai đoạn cả nước khôi phục sản xuất sau chiến tranh, nền kinh tế vận hành trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ, ngành Lâm nghiệp tập trung vào xây dựng và phát triển các lâm trường quốc doanh đại diện cho thành phần kinh tế nhà nước, phong trào công nhân hóa lâm dân thực hiện trên diện rộng cùng với hình thành làng lâm nghiệp, thị tứ lâm nghiệp.

Tuy vậy, đầu những năm 1990 diện tích rừng đã giảm thấp nhất trong lịch sử, trước tình hình đó Đảng, Nhà nước đã chỉ đạo chủ trương đổi mới quản lý ngành lâm nghiệp đa dạng hóa các thành phần kinh tế để tập trung khôi phục trồng rừng thông qua chính sách khoán bảo vệ rừng, giao đất, giao rừng để tập thể và nhân dân trồng cây gây rừng, tu bổ, cải tạo rừng và kinh doanh rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc. Xác định lại chức năng và phạm vi hoạt động của ngành Lâm nghiệp, xây dựng và phát triển công nghiệp chế biến lâm sản tập trung ở Việt Trì, Hà Nội, Vinh, Hải Phòng...

Mặc dù vậy, các lâm trường quốc doanh cơ bản vẫn có nhiệm vụ pháp lệnh là khai thác gỗ rừng tự nhiên phục vụ nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu lương thực. Công tác bảo vệ rừng mới bước đầu được quan tâm ở một số địa phương, tình trạng khai hoang rừng lấy đất canh tác nông nghiệp, trồng cây công nghiệp vẫn được khuyến khích tại nhiều địa phương.

 - Giai đoạn từ năm 1996 đến nay: thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, ngành Lâm nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường hội nhập ngày càng sâu rộng, với mục tiêu phát triển cả kinh tế - xã hội - môi trường, phát triển có hiệu quả hơn quan điểm xã hội hóa nên đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thể hiện ở các mặt cơ bản sau:

  Một là, ngành Lâm nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổn định đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của cả nước. Năm 2019, giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 11,3 tỷ USD, dự kiến năm 2020 đạt 13 tỷ USD, chiếm 2,3% tổng giá trị xuất khẩu cả nước và chiếm trên 26% tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới, thứ 2 Châu Á, thứ nhất Đông Nam Á về xuất khẩu lâm sản, hiện sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam đã có mặt tại hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cùng với đó lâm sản ngoài gỗ, dịch vụ môi trường rừng là những thành quả mới trong những năm qua, tiếp cận và tiên phong trong thực hiện các sáng kiến quốc tế mới, chúng ta đang tích cực và trách nhiệm thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc.

   Hai là, ngành Lâm nghiệp đã thực hiện tốt về xã hội hóa nghề rừng và góp phần công cuộc xóa đói giảm nghèo; đã thu hút khoảng 20 triệu lao động vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, chế biến lâm sản và dịch vụ lâm nghiệp để tăng thu nhập, tạo thêm việc làm, phát triển sinh kế từ rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo. Hàng triệu hộ gia đình, cộng đồng dân cư được giao rừng và đất lâm nghiệp để quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Hiện cả nước có trên 5.500 doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản thu hút hàng triệu lao động. Giai đoạn 2011-2019 đã thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bình quân gần 2.000 tỷ đồng/năm cho các chủ rừng và cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ rừng.

 Ba là, diện tích rừng cả nước cơ bản tăng đều qua các năm và đạt tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42% vào năm 2020, hoàn thành chỉ tiêu cơ bản được Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định. Việt Nam là một trong số rất ít nước có tốc độ tăng diện tích rừng ổn định và nhanh trên thế giới. Đóng cửa khai thác gỗ toàn bộ 10,3 triệu ha rừng tự nhiên, kiểm soát chặt chẽ chuyển mục đích sử dụng rừng, hình thành hệ thống rừng đặc dụng trên 2,2 triệu ha, rừng phòng hộ trên 4,6 triệu ha.

Ngành Lâm nghiệp đã và đang triển khai nhiều chương trình, dự án với mục tiêu chung là phát huy chức năng phòng hộ của rừng ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ hệ thống đê biển, cơ sở hạ tầng, bảo tồn đa dạng sinh học; góp phần phát triển kinh tế, xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh quốc gia. Nhiều chính sách quan trọng liên quan đến giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đã được ngành Lâm nghiệp xây dựng và triển khai thực hiện ở nhiều chương trình, dự án trên phạm vi cả nước và chủ động, tích cực tham gia và thực hiện các cam kết quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu.

Có được thành công trên, bắt nguồn từ đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, các địa phương và toàn thể nhân dân nỗ lực, lao động cần cù sáng tạo, phấn đấu không ngừng cùng với sự nhạy bén của cộng đồng các doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề. Phát triển lâm nghiệp là biểu hiện tập trung của thành quả đổi mới đất nước, sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Tự hào về thành tựu đạt được chúng ta càng thấm thía ghi nhận, bày tỏ sự tri ân đối với các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, toàn thể những người tham gia, đổ mồ hôi, xương máu cho sự nghiệp giữ gìn màu xanh đất nước, các doanh nhân đã chung sức, đồng lòng, cần cù sáng tạo, thực hiện tốt nhiệm vụ, trọng trách của toàn ngành, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý”.

Với tinh thần thái độ nghiêm túc, nhìn thẳng vào thực trạng, bên cạnh thành tựu đạt được, chúng ta thấy rằng ngành Lâm nghiệp cũng còn có những tồn tại thách thức như: Tỷ lệ che phủ rừng tăng, nhưng chất lượng rừng chưa cao kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng; chưa khai thác hết tiềm năng lợi thế của rừng, thu nhập của người làm nghề rừng còn thấp; vẫn còn những điểm nóng về phá rừng, vận chuyển, tàng trữ lâm sản trái phép và chống người thi hành công vụ, cháy rừng, mất rừng vẫn tiềm ẩn rủi ro, sự vào cuộc của chính quyền một số địa phương còn thiếu quyết liệt, nhất là tại một số vùng trọng điểm phá rừng như vùng Tây Nguyên; kết cấu hạ tầng cho phát triển lâm nghiệp chưa được đầu tư đúng mức, nhất là tại các ban quản lý rừng, công ty lâm nghiệp hạ tầng cơ sở yếu kém, thiếu trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trong khi đó công tác bảo vệ, phát triển rừng, bảo vệ môi trường sinh thái ngày càng nặng nề, khó khăn do biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, thiên tai, bão lũ, nhu cầu sử dụng rừng và đất lâm nghiệp ngày càng tăng.

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới với thế và lực mới, nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp số phát triển mạnh mẽ, trước yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường; nhiệm vụ của ngành Lâm nghiệp rất nặng nề. Do vậy, toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của ngành lâm nghiệp Việt Nam tiếp tục phát huy những thành tựu đạt được, đoàn kết, chung sức, đồng lòng, đổi mới sáng tạo, thực hiện khát vọng chung của Lâm nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới là Lâm nghiệp Việt Nam hiện đại và sáng tạo; phát triển hài hòa và bền vững cả về kinh tế, xã hội, môi trường; có vị thế quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Để đạt được khát vọng đó trong giai đoạn tới, trước mắt phải tập trung rà soát Quy hoạch phát triển Lâm nghiệp Quốc gia, Chiến lược phát triển ngành cùng với tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp cơ bản để duy trì tỷ lệ che phủ rừng ở mức 42%, tập trung nuôi dưỡng, phục hồi, làm giàu rừng tự nhiên, nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng tăng 20% vào năm 2025, 40% vào năm 2030 so với hiện nay; đảm bảo nguồn nguyên liệu gỗ lâm sản khoảng 40 triệu m3 năm 2025, 50 triệu m3 năm 2030 chủ động cho công nghiệp chế biến gỗ lâm sản xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững đất 3 loại rừng được quy hoạch cho lâm nghiệp; đảm bảo sự tham gia rộng rãi, bình đẳng của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp, huy động tối đa các nguồn lực xã hội, thu từ dịch vụ môi trường và lâm sản dược liệu dưới tán rừng tăng gấp 2 lần vào năm năm 2025, tăng gấp 3 lần vào năm 2030 so với năm 2020; tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp từ 5,0% đến 5,5%/năm ổn định đến năm 2030; kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 20 tỷ USD vào năm 2025 và 25 tỷ USD vào năm 2030 đóng góp ngày càng tăng vào phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh nguồn nước, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó chủ động và hiệu quả với biến đổi khí hậu, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, cung cấp đa dạng các dịch vụ hệ sinh thái rừng; góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho 20 triệu người dân nông thôn, miền núi, dân tộc thiểu số; góp phần giữ vững quốc phòng an ninh.

Tổng kết thực tiễn, phát huy thành tựu đạt được các Chương trình phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước (Chương trình 327), Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (Chương trình 661), Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững (Chương trình 886) để hoạch định và triển khai chương trình phát triển lâm nghiệp giai đoạn tới, tập trung các ưu tiên hành động cho vùng Tây Nguyên; có đề án kịp thời triển khai sáng kiến trồng thêm 1 tỷ cây gỗ lớn và lâu năm do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát động tại Kỳ họp 13, Quốc hội Khóa XIV vừa qua.

Nhân buổi lễ long trọng này, cho phép tôi thay mặt lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Lãnh đạo các ban, bộ, ngành trung ương, các tỉnh, thành phố, các nhà khoa học, các doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân; các tổ chức quốc tế đã tạo điều kiện, hỗ trợ cho ngành Lâm nghiệp nói riêng, ngành Nông nghiệp nói chung trong thời gian qua, chúng tôi mong rằng trong thời gian tới tiếp tục nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp, các ngành để ngành lâm nghiệp ngày càng phát triển hơn nữa, đáp ứng với sự mong muốn của toàn xã hội.

Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trân trọng đề nghị các tổ chức, cá nhân và toàn ngành Lâm nghiệp phát huy cao độ ý trí tự lực, tự cường, tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, truyền thống đoàn kết cố kết cộng đồng của đồng bào các dân tộc, bằng hành động cụ thể, thiết thực góp phần đưa ngành Lâm nghiệp vững bước bước sang những thập niên mới, hoàn thành suất sắc hơn các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó cho chúng ta, xứng đáng với lời chúc mừng và tin tưởng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng gửi tới chúng ta tại buổi Lễ long trọng này.

Xin trân trọng cảm ơn!

BỘ TRƯỞNG NGUYỄN XUÂN CƯỜNG

BỘ TRƯỞNG BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN