Điểm báo ngày 18/10/2018

Cập nhật ngày : 18/10/2018 02:08

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 18 tháng 10 năm 2018)

Hiệu quả từ ứng dụng hệ thống nền FORMIS cho ngành lâm nghiệp

Ứng dụng hệ thống nền FORMIS và các phần mềm nghiệp vụ sẽ giúp cung cấp các thông tin kịp thời, chính xác cho ngành lâm nghiệp. Đặc biệt, với phần mềm cập nhật diễn biến tài nguyên rừng, thời gian công bố hiện trạng rừng sẽ rút ngắn 4 tháng so với cách làm trước đây.

Đó là những hiệu quả mang lại từ hệ thống nền FORMIS được cho biết tại Hội thảo tổng kết Dự án Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp tại Việt Nam - FORMIS II (2013-2018). Hội thảo do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) phối hợp với Đại sứ quán Phần Lan tại Việt Nam tổ chức chiều 17/10, tại Hà Nội.

Được triển khai từ năm 2013, sau 5 năm thực hiện, Dự án “Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp tại Việt Nam” đã và đang đóng góp lớn cho ngành lâm nghiệp với các thành quả quan trọng. Lần đầu tiên Việt Nam xây dựng được một hệ thống nền FORMIS cho phép xây dựng cơ sở dữ liệu trên cơ sở các ứng dụng chuyên dụng và các phần mềm như: Cập nhật diễn biến tài nguyên rừng, báo cáo nhanh kiểm lâm, quản lý công nghiệp chế biến lâm sản,…

Theo đó, dữ liệu của 7,1 triệu lô rừng của trên 1,4 triệu chủ rừng từ 60 tỉnh, thành phố trong cả nước sau chương trình Tổng điều tra, kiểm kê rừng đã được tích hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng. Cùng với đó, các dữ liệu cập nhật diễn biến rừng 3 năm từ 2016 – 2018; dữ liệu điều tra rừng 4 chu kỳ từ năm 1990 đến 2010; dữ liệu giống cây trồng lâm nghiệp; dữ liệu chi trả dịch vụ môi trường rừng,… cũng được chuẩn hoá và tích hợp vào hệ thống. Dự án đã xây dựng được Hệ thống chia sẻ trực tuyến tại địa chỉ http://maps.vnforest.gov.vn .

Ứng dụng hệ thống nền FORMIS và các phần mềm nghiệp vụ giúp cung cấp các thông tin kịp thời, chính xác cho ngành lâm nghiệp. Đặc biệt với phần mềm cập nhật diễn biến tài nguyên rừng, thời gian công bố hiện trạng rừng sẽ rút ngắn 4 tháng so với cách làm trước đây.

Dự án FORMIS II đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của hai Chính phủ Việt Nam và Phần Lan. Theo đánh giá, những kết quả của Dự án đã góp phần thực hiện mục tiêu ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và các phương pháp khoa học dữ liệu trong công tác quản lý, điều hành lĩnh vực lâm nghiệp. Đồng thời, Hệ thống giúp ngành Lâm nghiệp thực hiện tốt hơn công tác cải cách hành chính, góp phần minh bạch thông tin, chia sẻ dữ liệu ngành theo hướng hiện đại, khoa học.

Thông tin tại Hội thảo cho biết, trong thời gian tới, để tiếp tục duy trì, vận hành hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp sẽ tiếp tục là đầu mối điều phối, tiếp nhận các thành quả của dự án. Đồng thời sẽ xây dựng Dự án Duy trì và Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp giai đoạn 2019 – 2020 và Đề án Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp giai đoạn 2021 – 2025, báo cáo Bộ NN&PTNT để trình Chính phủ phê duyệt.

Hệ thống sẽ tiếp tục được nâng cấp, bổ sung hệ thống máy chủ và các thiết bị công nghệ thông tin để bảo đảm hoạt động ổn định, mở rộng và phát triển một số ứng dụng, phần mềm chuyên ngành nhằm đáp ứng yêu cầu chỉ đạo điều hành thông suốt từ trung ương đến địa phương. (Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 17/10) Về đầu trang

http://www.dangcongsan.vn/kinh-te/hieu-qua-tu-ung-dung-he-thong-nen-formis-cho-nganh-lam-nghiep-501848.html

 

2.976 ý kiến, kiến nghị gửi Quốc hội, cử tri mong muốn điều gì?

Sáng ngày 17/10, tiếp tục phiên họp thứ 28, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về các báo cáo: Tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân gửi đến kỳ họp thứ 6 của Quốc hội và Giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 5 của Quốc hội.

Tại phiên họp, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn cho biết, từ sau kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa XIV đến nay, đã tổng hợp được 2.976 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi tới Quốc hội, trong đó có 365 ý kiến, kiến nghị của cử tri được phản ánh qua các Đoàn đại biểu Quốc hội và 2.611 ý kiến, kiến nghị của nhân dân được phản ánh qua hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên Mặt trận ở Trung ương.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho biết, cử tri và nhân dân tiếp tục thể hiện tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, giám sát của Quốc hội, vai trò quản lý, điều hành hiệu quả của Chính phủ.

“Lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô ổn định; chất lượng của nền kinh tế tăng trưởng khá; sản xuất nông nghiệp, công nghiệp có chuyển biến tích cực; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện; an sinh xã hội được chăm lo, bảo đảm; bảo vệ môi trường, công tác phòng chống bão, lũ, ứng phó với biến đổi khí hậu được tăng cường; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững; đối ngoại được triển khai đồng bộ, toàn diện”, ông Trần Thanh Mẫn nói.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, cử tri và Nhân dân còn lo lắng về một số vấn đề như: nền kinh tế đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; lạm phát vẫn tiềm ẩn; năng suất lao động, năng lực cạnh tranh trong nhiều ngành, lĩnh vực chưa cao; nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu không kịp thời và có giải pháp nắm bắt ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, bão, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn diễn biến khó lường...

Bên cạnh đó, cử tri và nhân dân cũng tiếp tục thể hiện sự tin tưởng, kỳ vọng vào quyết tâm chính trị và hành động quyết liệt của Đảng, Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, đã xét xử nhiều vụ án tham nhũng lớn, kỷ luật nhiều cán bộ có hành vi lợi dụng chức vụ và kẽ hở của pháp luật để tham nhũng, “lợi ích nhóm” gây thất thoát nghiêm trọng tài sản của Nhà nước.

Tuy nhiên, cử tri còn bất bình vì nạn “tham nhũng vặt” chưa giảm, nhiều doanh nghiệp và người dân phải chi trả những khoản chi phí ngoài quy định khi thực hiện các thủ tục hành chính.

Những biểu hiện tiêu cực này thường chỉ được phát hiện thông qua phản ánh, tố giác của người dân hoặc qua báo chí, hầu như không được phát hiện thông qua đấu tranh nội bộ, tự phê bình và phê bình của cán bộ, công chức.

Cử tri đề nghị đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; thực hiện thu hồi tối đa tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát, các cán bộ thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập, về thu hồi tài sản tham nhũng, về trách nhiệm của người đứng đầu.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho biết, Cử tri và nhân dân đánh giá cao sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước trong kiện toàn hệ thống chính trị và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tăng cường trách nhiệm nêu gương, tính tiền phong, gương mẫu của mỗi lãnh đạo, cán bộ, đảng viên.

Tuy nhiên, việc sắp xếp lại bộ máy ở một số nơi còn thiếu đồng bộ; việc tinh giản biên chế chưa gắn với cơ cấu lại tổ chức bộ máy; một số nơi còn sai phạm trong bổ nhiệm, tuyển dụng cán bộ, công chức. Cử tri đề nghị các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đảm bảo thống nhất trong toàn hệ thống từ các bộ, ngành, cơ quan T.Ư đến địa phương, cơ sở; thực hiện tốt hơn nữa công tác cán bộ để lựa chọn, bố trí người thực sự có đức, có tài vào các vị trí lãnh đạo trong bộ máy.

Về kinh tế, xã hội, cử tri và Nhân dân đồng tình cao với việc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tiếp tục tăng cường đối thoại, điều chỉnh chính sách. Tuy nhiên, cử tri cho rằng thủ tục hành chính còn rườm rà, việc đơn giản hóa, cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục kiểm tra chuyên ngành còn chậm, hạ tầng cơ sở chưa được cải thiện nhiều và công nghiệp phụ trợ còn yếu kém, nhiều chính sách vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, tình trạng làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí vẫn xảy ra ở nhiều doanh nghiệp Nhà nước.

Vì vậy, cử tri đề nghị Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách, cắt giảm điều kiện kinh doanh một cách thực chất, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính.

Cử tri đánh giá cao việc triển khai chủ trương cải cách, đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng, Nhà nước, ghi nhận nỗ lực của Bộ GD&ĐT trong việc tổ chức triển khai và những kết quả, thành tích đã đạt được.

Tuy nhiên, cử tri và Nhân dân phản ánh việc triển khai áp dụng chương trình Tiếng Việt - Công nghệ giáo dục 1 đã gần 40 năm qua nhưng chưa có đánh giá đầy đủ và toàn diện; việc xuất bản, phát hành sách giáo khoa còn bất cập dẫn đến tình trạng thiếu sách giáo khoa đầu năm học; phần lớn sách giáo khoa chỉ sử dụng một lần gây lãng phí cho xã hội; các sai phạm, tiêu cực trong khâu chấm thi tốt nghiệp THPT năm 2018 - 2019 tại một số địa phương làm ảnh hưởng đến kết quả kỳ thi và uy tín của ngành giáo dục, gây bức xúc trong Nhân dân.

Cử tri đề nghị Bộ GD&ĐT có báo cáo tổng thể và công khai các vấn đề liên quan đến sách giáo khoa, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc xuất bản sách giáo khoa, bảo đảm chất lượng, tiết kiệm, tránh tình trạng “độc quyền”; thực hiện rà soát, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, bảo đảm giám sát chặt chẽ, khách quan, minh bạch trong tổ chức thi và tiếp tục xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Về quản lý đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường, cử tri phản ánh việc sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, khoáng sản ở một số địa phương không theo quy hoạch; vẫn còn tình trạng phá rừng, khai thác đá, cát, sỏi trái phép, không phép; việc đền bù, tái định cư khi thu hồi đất chưa công khai, minh bạch; giá bồi thường chưa phù hợp; còn một số sai phạm, tham nhũng trong lĩnh vực đất đai chưa được giải quyết thỏa đáng, là một trong những nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện bức xúc, kéo dài.

Vì thế, cử tri đề nghị tổng rà soát và thanh tra việc quản lý, sử dụng đất, tài nguyên, khoáng sản; tăng cường đối thoại, đề cao trách nhiệm của chính quyền địa phương, xử lý nghiêm các vi phạm. (Kienthuc.net.vn 17/10) Về đầu trang

https://kienthuc.net.vn/xa-hoi/2976-y-kien-kien-nghi-gui-quoc-hoi-cu-tri-mong-muon-dieu-gi-1131554.html

Lâm Đồng: Khởi tố 2 vụ án doanh nghiệp để mất rừng

Chiều 17/10, ông Đồng Văn Lâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) cho biết, đơn vị đã khởi tố 02 vụ án hủy hoại rừng xảy ra tại lâm phần của 02 doanh nghiệp hoạt động tại địa phương, để tiếp tục điều tra, xử lý.

Kết quả xác minh ban đầu cho thấy, trong quá trình thực hiện các dự án du lịch, trồng và chế biến rau quả, trồng và chăm sóc rừng tại xã Đạ Nhim (huyện Lạc Dương),Công ty CP Thiên Thai đã để 62 cây thông ba lá nhiều năm tuổi bị chếtvới khối lượng gỗ thiệt hại gần 92m3.

Dự án của Công ty TNHH Khánh Giang tại xã Đạ Chais (huyện Lạc Dương) cũng có 48 cây thông lớn thuộc nhóm 4 bị chết với hình thức ken cây, đổ hóa chất với khối lượng gỗ thiệt hại gần 62m3.

Vụ án đang được ngành chức năng tiếp tục điều tra, xử lý. (Doanhnghiepvn.vn 17/10; Nhân Dân Online 17/10; Thuonghieucongluan.com.vn 17/10; Pháp Luật Việt Nam 18/10, tr10) Về đầu trang

http://doanhnghiepvn.vn/tin-tuc/xa-hoi/lam-dong-khoi-to-2-vu-an-doanh-nghiep-de-mat-rung/2018101705254027

 

Bình Thuận: Đề nghị khởi tố vụ án phá rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Cú

Sau khi VOV phản ánh về nạn phá rừng tiếp tục diễn ra ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Cú, ngày 17/10, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Thuận đã đích thân đến hiện trường kiểm tra vụ việc. Các vụ phá rừng xảy ra liên tiếp ở đây với mức độ nghiêm trọng cần được đề nghị khởi tố, điều tra, truy tìm đối tượng để xử lý nghiêm minh.

Trưa 17/10, ông Huỳnh Hiếu, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Thuận dẫn đầu đoàn công tác vào khu rừng mới được phát hiện bị cưa phá ở láng Cỏ Nổ, tiểu khu 299, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam.

Cùng đi kiểm tra hiện trường có lãnh đạo của Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Cú, Hạt Kiểm lâm huyện Hàm Thuận Nam, Trạm quản lý bảo vệ rừng Tân Thuận và Kiểm lâm địa bàn xã Tân Thuận. Tại đây, các cán bộ kiểm lâm đã đo kích thước những cây gỗ bị cưa ngã, xác định tọa độ, đo vẽ hiện trường xảy ra vụ việc.

Ông Huỳnh Hiếu cho biết, những thông tin báo chí phản ánh hoàn toàn đúng sự thật và đánh giá đây là vụ phá rừng có chủ đích “lấy đất trồng thanh long” tương tự như các vụ xảy ra ở tiểu khu 302a mà VOV đã phản ánh trong tháng 9.

Tổng diện tích các vụ phá rừng này cộng lại hơn 1,5 ha, trong thời gian khoảng 1 tháng và ở vị trí cách nhau không xa, do vậy cơ quan Kiểm lâm tỉnh đánh giá đây là vụ phá rừng có tổ chức, có người cầm đầu.

Tính chất vụ việc có dấu hiệu phạm tội, nên không thể tách nhỏ hồ sơ thành từng vụ việc đơn lẻ theo cách làm của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Cú và Kiểm lâm địa bàn xã Tân Thuận như thời gian qua. Chi cục Kiểm lâm Bình Thuận đã chỉ đạo ngay cho Hạt Kiểm lâm Hàm Thuận Nam phối hợp với Công an Hàm Thuận Nam và chính quyền địa phương củng cố xác minh để khởi tố vụ án.

Ông Huỳnh Hiếu, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bình Thuận nhấn mạnh, chỉ có khởi tố vụ án để chuyển cơ quan điều tra vào cuộc thì quá trình đấu tranh tìm ra đối tượng sẽ hiệu quả hơn. Nếu ghi nhận vắng chủ, không xử lý được, thì tình hình này sẽ tiếp tục kéo dài. (VOVNews 17/10; Sài Gòn Giải Phóng Online 17/10) Về đầu trang

https://vov.vn/tin-nong/de-nghi-khoi-to-vu-an-pha-rung-tai-khu-bao-ton-thien-nhien-ta-cu-827239.vov

http://www.sggp.org.vn/de-nghi-khoi-to-vu-an-pha-rung-trong-khu-bao-ton-thien-nhien-ta-cu-553153.html

   

Buôn bán trái pháp luật động vật hoang dã là tội phạm nghiêm trọng

Ngày 11.10.2018 tại thủ đô London, Vương quốc Anh, Hội nghị quốc tế về Chống buôn bán trái pháp luật động vật, thực vật hoang dã (IWT) đã diễn ra long trọng với sự tham dự của các nguyên thủ quốc gia, gồm Tổng thống Botswana, Gabon, Uganda, Chad; Phó Thủ tướng Cambodia, Hoàng tử Vương quốc Anh, Bộ trưởng Nội vụ Hoa Kỳ. Phái đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NNPTNT) Hà Công Tuấn làm trưởng đoàn.

Hội nghị thu hút sự tham dự của hơn 1.000 đại biểu đến từ 80 quốc gia, vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ. Phái đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Thường trực Bộ NNPTNT Hà Công Tuấn làm trưởng đoàn, tham dự hội nghị còn có đại diện của Bộ Công an và Bộ Tài chính. Tại Lễ khai mạc, đại diện cho các quốc gia đã đăng cai các kỳ Hội nghị IWT trước, Thứ trưởng Thường trực Bộ NNPTNT Hà Công Tuấn đã có phiên Đối thoại cấp cao cùng Tổng thống Cộng hòa Botswana trước sự chứng kiến của các tổng thống, lãnh đạo cấp cao các quốc gia, Hoàng tử Anh và toàn thể đại biểu.

Tại cuộc trao đổi, Thứ trưởng Thường trực Hà Công Tuấn một lần nữa khẳng định các nỗ lực của Việt Nam và thành tựu của các quốc gia tham gia cam kết sau 1 năm thực hiện Tuyên bố Hà Nội. Thứ trưởng Thường trực Hà Công Tuấn nhấn mạnh nỗ lực của Việt Nam trong việc hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường thực thi pháp luật, giảm nhu cầu tiêu thụ động thực vật hoang dã (ĐTVHD) và cải thiện sinh kế cho người dân. Đối với ưu tiên giải pháp thực hiện, Thứ trưởng nhận định tội phạm buôn bán trái pháp luật ĐTVHD cần được coi là loại hình tội phạm nghiêm trọng, có tổ chức, có tính chất xuyên vùng, xuyên biên giới; đồng thời cần thúc đẩy việc chia sẻ thông tin về thực thi pháp luật giữa các quốc gia.

Thứ trưởng Thường trực Hà Công Tuấn đề cao nỗ lực của Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc trong việc đóng cửa thị trường một số sản phẩm động vật hoang dã trái pháp luật như ngà voi, đồng thời đánh giá cao các cơ chế hợp tác quốc tế như ASEAN-WEN, INTERPOL, ICCWC, cơ chế nhằm kiểm soát buôn bán ĐTVHD như Công ước CITES. Cùng quan điểm với Việt Nam, Tổng thống Botswana nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển bền vững, cân bằng các lợi ích phát triển kinh tế cùng với bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và hệ động, thực vật hoang dã. Trong khuôn khổ chương trình Hội nghị, đoàn Việt Nam đã thể hiện sự đồng thuận cùng nhiều quốc gia khác thông qua Tuyên bố London 2018. Hội nghị sẽ tiếp tục diễn ra trong vòng 2 ngày với các phiên họp kỹ thuật, sự kiện bên lề khác nhau. (Lao Động Online 17/10) Về đầu trang

 https://laodong.vn/thi-truong/buon-ban-trai-phap-luat-dong-vat-hoang-da-la-toi-pham-nghiem-trong-636531.ldo

Quảng Bình: Lãnh đạo lâm trường bị hành hung

Ngày 17/10, Lâm trường Đồng Hới) cho biết, ông Lê Văn Thuật - Phó GĐ Lâm trường đã bị một đối tượng dùng hung khí tấn công gây thương tích khi đang xử lý vụ vi phạm bảo vệ rừng.

Trước đó, khoảng 9h30 ngày 16/10, tổ bảo vệ của lâm trường Đồng Hới kiểm tra bảo vệ rừng cao su sản xuất (thuộc địa phận xã Lý Trạch, huyện Bố Trạch), thì phát hiện một nhóm đối tượng có hành vi lấn chiếm đất rừng của đơn vị.

Nhận được thông tin, ông Lê Văn Thuật đến hiện trường để giải quyết vụ việc. Khi đang thực hiện nhiệm vụ, đối tượng Nguyễn Công (trú tại xã Lý Trạch) lao đến đập thẳng vào đầu gây thương tích. Khi ông Thuận đang bị choáng thì đối tượng này đã dung hung khí tấn công. Mọi người trong tổ công tác kịp thời can thiệp và đưa ông Thuật đi cấp cứu tại bệnh viện.

Hiện Công an huyện Bố Trạch đã triệu tập đối tượng để làm rõ hành vi để xử lý theo pháp luật. (Nông Nghiệp Việt Nam 18/10, tr14; Nông Nghiệp Việt Nam Online 17/10) Về đầu trang

 https://nongnghiep.vn/lanh-dao-lam-truong-bi-hanh-hung-post228921.html

Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Tạo nguồn lực bảo vệ và phát triển rừng bền vững

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) của Chính phủ đã góp phần quan trọng tăng cường nguồn lực thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Ðồng thời, tạo động lực, khuyến khích người dân tích cực, chủ động tham gia các hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đóng góp nguồn tài chính đáng kể cho ngành lâm nghiệp, góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của những người làm nghề rừng.

Theo bà Ðặng Thị Thu Hiền, Phó Giám đốc phụ trách Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh: Sau gần 7 năm triển khai chính sách chi trả DVMTR đã mang lại những hiệu ứng tích cực trong việc nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng. Nếu như trước đây, một bộ phận người dân phá rừng, xâm hại tài nguyên rừng một phần nguyên nhân là do thiếu đất sản xuất, phá rừng trồng lương thực để duy trì cuộc sống, thì nay vẫn những con người ấy họ lại ra sức bảo vệ, phát triển rừng, bởi lợi ích họ được nhận là số tiền chi trả DVMTR khá ổn định hàng năm để mua lương thực, các nhu yếu phẩm khác. Chỉ tính riêng năm 2017, Quỹ đã chi trả hơn 143 tỷ đồng tiền DVMTR cho chủ rừng trong toàn tỉnh. Số tiền và diện tích rừng đủ điều kiện chi trả DVMTR tăng lên qua các năm. Một số diện tích rừng thuộc lưu vực sông Ðà đạt mức chi trả tối đa 800.000 đồng/ha/năm, như các huyện Mường Nhé và Nậm Pồ. Ðây thực sự là món tiền quan trọng, ý nghĩa với người dân sống bằng nghề rừng ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới này. Có nguồn thu nhập ổn định từ tiền chi trả DVMTR bà con yên tâm bảo vệ và phát triển rừng hơn. Hiện nay, Quỹ đã và đang tích cực chi trả tiền DVMTR tạm ứng đợt 1, năm 2018 cho người dân chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng thuộc các lưu vực được thụ hưởng chính sách.

Cuối tháng 9 vừa qua, Quỹ đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Tủa Chùa, Mường Nhé và UBND các xã trên địa bàn của 2 huyện tổ chức chi trả tạm ứng lần 1 năm 2018 với đơn giá 300.000 đồng/ha cho chủ rừng. Tổng diện tích rừng đủ điều kiện cung ứng DVMTR của các chủ rừng trên địa bàn huyện Mường Nhé năm 2018 gần 30.301,8ha; tại huyện Tủa Chùa hơn 21.092ha. Quỹ đã chi trả tạm ứng lần 1 tiền DVMTR năm 2018 cho 194 chủ rừng là cộng đồng, 239 chủ rừng là hộ gia đình trên địa bàn 2 huyện nói trên với tổng số tiền gần 15,1 tỷ đồng (trong đó, chủ rừng trên địa bàn huyện Tủa Chùa nhận trên 6,2 tỷ đồng; chủ rừng ở huyện Mường Nhé nhận gần 8,9 tỷ đồng).

Xã Sen Thượng (huyện Mường Nhé) có 7 cộng đồng thôn bản, quản lý hơn 10.198ha rừng; tổng số tiền DVMTR được chi trả năm 2017 trên 8,1 tỷ đồng. Cuối tháng 9 vừa qua chủ rừng được nhận tạm ứng tiền chi trả DVMTR đợt 1, năm 2018 hơn 3,3 tỷ đồng. Riêng cộng đồng bản Tả Ló San có 21 hộ nhận khoán quản lý bảo vệ hơn 2.762ha rừng (chiếm 27% tổng diện tích rừng được chi trả DVMTR của cả xã). Tổng số tiền DVMTR năm 2017 và tạm ứng đợt 1, năm 2018 chủ rừng được nhận hơn 3 tỷ đồng. Ông Lỳ Khò Chừ, Trưởng bản Tả Ló San cho biết: Ý thức được tầm quan trọng của rừng, mỗi người dân trong bản đều coi rừng là vật báu để giữ gìn, bảo vệ và trân trọng. Cuộc sống của những người sống bằng nghề rừng trong bản thực sự đổi thay, khấm khá khi 21 hộ trong bản giữ rừng, bảo vệ rừng được nhận tiền chi trả DVMTR. Nhiều chủ rừng được thanh toán tới 115 triệu đồng/ha/năm - số tiền thực sự có ý nghĩa với bà con trong việc đảm bảo lương thực, trang trải cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, chúng tôi càng ý thức hơn việc giữ rừng, tuần tra bảo vệ và phát hiện, tố giác những đối tượng có hành vi xâm hại tài nguyên rừng. Nhờ đó, diện tích rừng của bản luôn được bảo vệ nghiêm ngặt, phát triển xanh tốt; không để xảy ra cháy rừng, phá rừng.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách chi trả DVMTR, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh sẽ tích cực tuyên truyền, phổ biến nội dung, mục đích, ý nghĩa của chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 147/CP, ngày 2/11/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR cho các đối tượng liên quan. Ðồng thời, tăng cường thu đúng, thu đủ các loại dịch vụ đã quy định đối tượng thu, mức thu; yêu cầu các đơn vị thực hiện nghiêm túc việc thu nộp tiền DVMTR và các khoản đóng góp bắt buộc theo quy định trên phương tiện thông tin đại chúng, tạo sự đồng thuận của các cấp, ngành, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội. Cùng với đó, Quỹ sẽ tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách chi trả DVMTR đến các chủ rừng và hộ nhận khoán bảo vệ rừng. (Baodienbienphu.info.vn 17/10) Về đầu trang

http://baodienbienphu.info.vn/tin-tuc/kinh-te/164780/tao-nguon-luc-bao-ve-va-phat-trien-rung-ben-vung

Cà Mau: Khởi sắc rừng tràm

Quê hương xã Khánh Thuận, huyện U Minh hôm nay đã dần thay da đổi thịt nhờ vào quyết tâm của chính quyền địa phương và sự đồng lòng của người dân. Ngoài sinh kế từ rừng tràm, người dân nơi đây còn trồng cây ăn trái tăng thu nhập cho gia đình, nhiều hộ thoát nghèo.

“Trước đây, đời sống người dân chủ yếu dựa vào cây tràm, sinh kế còn gặp khó khăn khi đa phần canh tác theo kiểu truyền thống, năng suất thấp. Gần đây, nhờ áp dụng khoa học - kỹ thuật trong canh tác, mô hình đa canh được nhân rộng mà nhiều hộ dân tại địa phương dần có cuộc sống ổn định”, ông Nguyễn Thành Khẩn, Chủ tịch UBND xã Khánh Thuận, cho biết. 

Nhắc về thời đi mở đất, ông Ngô Văn Thiệt, 78 tuổi, Ấp 18, xã Khánh Thuận, thở dài: “Lúc đó rừng hoang sơ, điện đài, đường sá không có, dân cư thưa thớt, cách xa vài cây số mới có 1 cái nhà. Sinh sống nhờ trồng tràm, giăng cá đồng. Hồi ấy cá, rắn, rùa, lươn nhiều vô kể nhưng phải chạy từng ký gạo. Đời sống khó khăn nhưng vui, vì chúng tôi vượt khó bằng cái nghĩa xóm làng”.

Hơn 20 năm gắn bó với miệt rừng tràm này, ông Thiệt không thể nào quên những ngày tháng gian khó khi cùng vợ và các con vô xứ “khỉ ho cò gáy” này dựng nhà lập xóm. Hỏi ông vì sao biết xứ này khó khăn thế mà vẫn quyết lên đây bám trụ, ông Thiệt chỉ cười trừ: “Vì khoái vùng nước ngọt, mê cá đồng”. Chính các sở thích “lạ lùng” này mà gia đình ông rời quê hương xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi để về với đất rừng U Minh gầy dựng cơ nghiệp.

Ông Thiệt kể: “Chắc bởi cái duyên nên tôi không ngại khó mà rời vùng đất mặn để lên vùng nước ngọt sinh sống. Lúc ấy gian khó biết chừng nào, nhưng không hiểu sao tôi thấy yêu mến nơi đây, quyết định cùng vợ và các con bám trụ. Gian khó đã trải qua, đất không phụ lòng người, giờ sống khoẻ re nhờ cây tràm, cây ăn trái, con cá đồng”.

Dù đã 78 tuổi nhưng ông Thiệt vẫn hăng say lao động để phát triển kinh tế gia đình.

Là người quê gốc Đầm Dơi nhưng bà Nguyễn Thị Thành, 66 tuổi, Ấp 18, xã Khánh Thuận, huyện U Minh cũng quyết tâm vượt khó bám trụ mảnh đất này gần 20 năm qua. Vượt qua gian khó là khoảng thời gian thử thách lớn đối với gia đình bà Thành khi mới chuyển về xứ tràm sinh sống. Ổn định cuộc sống chưa bao lâu thì chồng bà qua đời, để lại cho bà gánh nặng mưu sinh với 4 người con.

Bà Thành nhớ lại: “Hồi mới tới đây đất đai rộng mênh mông mà người dân sinh sống thì thưa thớt. Lúc đó khổ dữ lắm, ăn cơm phải chui vô mùng, đốt đèn cóc chứ làm gì có đèn điện như bây giờ. Từ lúc ông nhà tôi mất càng khổ hơn, một mình nuôi con nơi xứ rừng hẻo lánh. Nhờ xóm làng đùm bọc mà mẹ con tôi vượt qua những ngày khốn khó”.

Đùm bọc nhau bởi cái tình chòm xóm, vì lẽ đó mà dù gian khó nhưng họ vẫn một lòng quyết tâm bám trụ, chinh phục vùng đất khó. Chính cái gian nan đã tạo nên những tinh thần thép nơi xứ rừng tràm này. Một thời gian khó đã qua, mảnh đất Khánh Thuận giờ đây đã dần thay màu áo mới, ấp xóm lung linh ánh đèn điện, những con đường mở ra kết nối thành thị - nông thôn gần nhau hơn.

Niềm vui thoát nghèo, ổn định cuộc sống là ước mơ mà người dân nơi đây đã hiện thực hoá trên chính mảnh đất mình gắn bó. Ông Lâm Quốc Tiến, Phó trưởng Ấp 18, xã Khánh Thuận, phấn khởi: “Nhờ nỗ lực của địa phương, sự đồng thuận của người dân mà nay số hộ nghèo đã dần được xoá. Nhờ vào các mô hình kinh tế hiệu quả trên đất rừng, ngoài thu nhập từ cây tràm, người dân còn đa canh. Lợi thế nằm trong vùng lõi xứ rừng, bên ngoài bao quanh nước mặn nên đây là điều kiện thuận lợi để người dân Ấp 18 phát triển 1 vụ lúa - 1 vụ tôm, trồng cây ăn trái bên cạnh cây tràm".

Gia đình ông Thiệt có 7 ha rừng tràm, 1 ha nuôi tôm, trồng lúa kết hợp, 1,5 ha trồng cam. Nhờ tính cần cù, ham học hỏi mà kinh tế gia đình ông dần phát triển. Ông Thiệt bộc bạch: “Mảnh đất này trù phú lắm, chịu khó, siêng năng thì lo gì thiếu cái ăn, cái mặc. Từ ngày áp dụng kỹ thuật mới vào trồng rừng, đời sống người dân quanh vùng phần nào khấm khá, cộng thêm trồng cam, nuôi tôm, trồng lúa nữa thì sống khoẻ”.

Mảnh vườn trồng cam của ông Thiệt với 5 ngàn gốc, mỗi năm cho 2 vụ trái, mỗi vụ từ 40-50 tấn. Trừ hết các khoản chi phí, thu nhập gia đình ông từ 150-200 triệu đồng/năm. Ngoài ra ông Thiệt còn thả nuôi tôm càng xanh kết hợp trồng lúa.

Mang khoa học - kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi nên nhiều hộ dân nơi đây có kinh tế ổn định. Anh Liên Hùng Em, Ấp 18, xã Khánh Thuận cũng có chung niềm phấn khởi khi thoát nghèo trên mảnh đất trước đây còn khốn khó. Với 5 ha đất, anh Hùng Em trồng tràm, quýt đường và chuối xiêm.

Anh Hùng Em phấn khởi: “Từ lúc áp dụng khoa học - kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi, năng suất, chất lượng tăng cao, đời sống gia đình từ đó đầy đủ hơn. Quyết tâm bám đất, bám rừng nên dù khó khăn, gia đình tôi không ngại. Giờ 4 đứa con tôi khôn lớn, còn 1 đứa đi học nên cố gắng chăm lo cho nó đầy đủ. Đừng như thời trước, cha mẹ nó không có một chữ bẻ đôi, tối ngày chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, cực lắm”.

Mảnh đất heo hút ngày xưa giờ đây đã có nhiều sản vật, mang lại nguồn kinh tế lớn. Nhờ sự cần cù, chịu khó, nỗ lực bám đất, bám rừng nên đời sống người dân dần nâng cao. Người dân nơi đây đã tận dụng lợi thế thiên nhiên ưu đãi nên có được cơ hội phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng. (Baocamau.com.vn 16/10) Về đầu trang

http://baocamau.com.vn/phong-su-ky-su/khoi-sac-rung-tram-57380.html

Các địa phương trồng mới 10.000 ha rừng

Đến trung tuần tháng 10-2018, các địa phương trong tỉnh đã trồng mới được 10.000 ha rừng, chủ yếu là rừng sản xuất, trong đó gần 9.000 ha do người dân tự đầu tư kinh phí trồng.

Để hoàn thành 100%  kế hoạch trồng mới  rừng trong năm 2018, các tháng vừa qua, các ngành, các cấp  liên quan đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như­­ quy hoạch các nguồn giống, hệ thống v­­ườn ư­­ơm toàn tỉnh đã sản xuất được 17 triệu cây giống lâm nghiệp; hư­­ớng dẫn kỹ thuật trồng mới; chỉ đạo hoàn thành tốt công tác thiết kế kỹ thuật các công trình lâm sinh. Khắc phục tình trạng cây giống lâm nghiệp kém chất lượng, ảnh hư­ởng đến hiệu quả rừng trồng, cùng với chỉ đạo, đôn đốc công tác sản xuất, chăm sóc cây giống, các ngành chức năng tăng cường kiểm tra cây giống xuất vườn và cấp giấy chứng nhận lô giống đủ tiêu chuẩn. Tuyên truyền, vận động các hộ dân  khắc phục khó khăn, tự bỏ vốn và tranh thủ thời điểm thời tiết thuận lợi tập trung trồng mới rừng trong vụ xuân và vụ thu. (Baothanhhoa.vn 17/10) Về đầu trang

http://baothanhhoa.vn/portal/pages/5d87fe/new-article.aspx

Đồng bộ thông tin quản lý lâm nghiệp

Lần đầu tiên Việt Nam xây dựng được một hệ thống nền cho phép cập nhật diễn biến tài nguyên rừng. Theo đó, dữ liệu của 7,1 triệu lô rừng của trên 1,4 triệu chủ rừng từ 60 tỉnh, thành phố trong cả nước đã được tích hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng.

Ngày 17 /10 , Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phối hợp với Đại sứ quán Phần Lan tại Việt Nam tổ chức Hội thảo tổng kết Dự án Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp tại Việt Nam - Giai đoạn II (Dự án FORMIS II). 

Được triển khai từ năm 2013, sau 5 năm thực hiện, Dự án “Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp tại Việt Nam” đã và đang đóng góp lớn cho ngành lâm nghiệp với các thành quả quan trọng. Lần đầu tiên Việt Nam xây dựng được một hệ thống nền FORMIS cho phép xây dựng cơ sở dữ liệu trên cơ sở các ứng dụng chuyên dụng và các phần mềm như: Cập nhật diễn biến tài nguyên rừng, Báo cáo nhanh kiểm lâm, Quản lý công nghiệp chế biến lâm sản,…

Theo đó, dữ liệu của 7,1 triệu lô rừng của trên 1,4 triệu chủ rừng từ 60 tỉnh, thành phố trong cả nước sau chương trình Tổng điều tra, kiểm kê rừng đã được tích hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng. Cùng với đó, các dữ liệu cập nhật diễn biến rừng 03 năm từ 2016 – 2018; dữ liệu điều tra rừng 4 chu kỳ từ 1990 đến 2010; dữ liệu tiềm năng về REDD+ và khu vực trồng rừng; dữ liệu giống cây trồng lâm nghiệp; dữ liệu chi trả dịch vụ môi trường rừng,… cũng được chuẩn hoá và tích hợp vào hệ thống. Dự án cũng đã xây dựng được Hệ thống chia sẻ trực tuyến tại địa chỉ http://maps.vnforest.gov.vn .

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết, hệ thống nền FORMIS và các phần mềm nghiệp vụ sẽ cung cấp các thông tin kịp thời, chính xác phục vụ quản lý, chỉ đạo điều hành các cấp từ trung ương đến địa phương. Đặc biệt với phần mềm cập nhật diễn biến tài nguyên rừng, thời gian công bố hiện trạng rừng sẽ rút ngắn 4 tháng so với cách làm trước đây.

Để vận hành hệ thống, hơn 2.000 lượt người tại các đơn vị lâm nghiệp và các cơ quan liên quan đã được tập huấn, phổ biến kiến thức sử dụng phần mềm. Tại 60 tỉnh, đã có trên 1.400 người dùng có đủ năng lực để sử dụng phần mềm, trong đó có 157 cán bộ của Chi cục Kiểm lâm, 1.179 kiểm lâm viên của 547 huyện và 120 người dùng thuộc các đơn vị khác. Dự án cũng đã xây dựng đội ngũ tiểu giáo viên có đủ năng lực bảo đảm duy trì bền vững hệ thống.

Dự án FORMIS II đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của hai Chính phủ Việt Nam và Phần Lan. Theo đánh giá, những kết quả của dự án đã góp phần thực hiện mục tiêu ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và các phương pháp khoa học dữ liệu trong công tác quản lý, điều hành lĩnh vực lâm nghiệp. Đồng thời Hệ thống cũng sẽ giúp ngành lâm nghiệp thực hiện tốt hơn công tác cải cách hành chính, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, góp phần minh bạch thông tin, chia sẻ dữ liệu ngành theo hướng hiện đại, khoa học.

Trong thời gian tới, để tiếp tục duy trì, vận hành hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp sẽ tiếp tục là đầu mối điều phối, tiếp nhận các thành quả của dự án. Đồng thời sẽ xây dựng Dự án Duy trì và Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp giai đoạn 2019 – 2020 và Đề án Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành  lâm nghiệp giai đoạn 2021 – 2025 báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để trình Chính phủ phê duyệt. Hệ thống cũng sẽ tiếp tục được nâng cấp, bổ sung hệ thống máy chủ và các thiết bị công nghệ thông tin để bảo đảm hoạt động ổn định, mở rộng và phát triển một số ứng dụng/phần mềm chuyên ngành nhằm đáp ứng yêu cầu chỉ đạo điều hành thông suốt từ trung ương đến địa phương.

Dự án Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp Việt Nam - Giai đoạn II (Dự án FORMIS II) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ quản, Tổng cục Lâm nghiệp là cơ quan thực hiện. Dự án được hỗ trợ tài chính bởi Chính phủ Phần Lan và Chính phủ Việt Nam. Ngân sách do Chính phủ Phần Lan đóng góp trị giá 9.7 triêu EUR. Vốn đối ứng từ Chính phủ Việt Nam là 437,530 EUR, tương đương 11,700,000,000 VND. NIRAS Finland Oy cùng GFA và Green Field cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật. (Báo Chính Phủ Điện Tử  17/10) Về đầu trang

http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Dong-bo-thong-tin-quan-ly-lam-nghiep/349682.vgp

 “Ông già gàn” cả đời giữ khư khư cánh rừng lim xanh

Dân làng gọi ông là “ông gàn” vì gia đình nghèo đói, ăn không đủ no nhưng cả đời giữ khư khư cánh rừng lim xanh. Để đến hôm nay, cánh rừng đã trả ơn ông bằng những cây gỗ lim to đến 2 người ôm không xuể. Đấy là câu chuyện của ông Lê Huy Thục (70 tuổi), trú tại thôn Thanh Quang, xã Thanh Tân, huyện Như Thanh (Thanh Hóa). Người mà dân làng đặt biệt hiệu vui “ông già gàn”.

Ông Thục cho hay: “Khoảng 40 năm trước, ở đây rất nhiều gỗ quý. Nhưng người dân địa phương chặt hạ rất nhiều, họ thi nhau chặt để có đất trồng lúa, trồng ngô mà không quan tâm đến giá trị của nó. Do không bị cấm nên chẳng bao lâu, những cánh rừng già trở nên nghèo kiệt”. Lúc này, chính quyền mới bắt đầu giao đất, giao rừng cho các hộ dân quản lý. Tuy nhiên, do đói nghèo nên chẳng mấy chốc cánh rừng xanh được quy đổi thành miếng cơm cho bà con nơi đây. Trong khi nạn đói hoành hành thì miếng cơm trở thành gánh nặng của người dân. Tất cả những gì có giá trị, họ đều đem bán để đong gạo, thậm chí chính họ cũng tự biến mình thành lâm tặc để phá bỏ những cánh rừng xanh mà thiên nhiên ban tặng. Thế nhưng, vẫn có người nhìn thấy tầm quan trọng của rừng, bằng mọi giá giữ bằng được, để rồi những cây lim con bắt đầu sinh trưởng và phát triển tốt. Đấy chính là người đàn ông “gàn” Lê Huy Thục.

Theo ông Thục: Khi mọi người chặt phá hết rừng để kiếm tiền đong gạo thì mỗi nhà tôi là giữ lại. Bao lần vợ con càu nhàu vì không có gạo ăn, mà cứ giữ khư khư cánh rừng lim không cho khai thác. Cũng chính vì lẽ đó mà mọi người gọi tôi là ông Thục “gàn”.

“Lúc đấy tôi chỉ có một suy nghĩ là nếu mình khai thác đi thì không biết đến đời con mình cây lim đã to bằng bắp chân hay chưa. Dù mình nghèo đói, nhưng còn rừng là còn tất cả”, ông Thục kể.

Từ suy nghĩ đó, cánh rừng lim 6ha của ông vẫn được giữ nguyên, nó không chỉ là cánh rừng lim xanh còn sót lại ở thôn, ở xã mà còn là cánh rừng lim đặc, có nhiều cây to nhất huyện.

Cũng từ đó, hàng năm ông luôn nhận được giấy khen của các cấp chính quyền do có thành tích trong việc vận động, tham gia quản lý rừng. Đặc biệt, ông cũng là người duy nhất của địa phương được tham gia hội thảo về quản lý và bảo vệ rừng do các cấp, ngành tổ chức.

Nhận được bằng khen của các cấp chính quyền, ông nhận thấy vai trò, trách nhiệm to lớn của mình trong việc bảo vệ, phát triển rừng. Hàng ngày, ngoài việc trông nom cánh rừng lim của gia đình, ông còn đến từng hộ đang còn rừng nghèo kiệt, tuyên truyền vận động họ giữ lại.

Ông Vi Văn Hắng (72 tuổi), người cùng thôn, cho biết: “Ông Thục là người tiên phong gương mẫu trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Ngoài bảo vệ, ông còn tuyên truyền cho các hộ dân tìm biện pháp để cùng ông giữ lại rừng. Tuy nhiên, do nhận thức hạn chế nên những cánh rừng của chúng tôi trước đây đã bị chặt phá hết, giờ chỉ còn cây keo”.

Nhận thấy cánh rừng lim của nhà ông Thục có mật độ dày, cây to nên Hạt kiểm lâm huyện Như Thanh đã xây dựng đề án bảo tồn gen giống lim xanh quý giá. Cũng từ đây, gia đình ông được hưởng thêm khoản phụ cấp  500.000 đồng/ha/năm.

Tuy đây không phải là số tiền lớn để giúp gia đình ông trang trải cuộc sống, nhưng đó cũng là món quà động viên, khích lệ ông vì đã có công giữ gìn và bảo vệ rừng.

Ông Lê Thanh Ngợi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Như Thanh, cho biết: “Sau khi kiểm tra, chúng tôi thấy cánh rừng lim nhà ông Thục có mật độ dày hơn nên lập đề án bảo tồn nguồn gen, đồng thời xin kinh phí để hỗ trợ cho gia đình ông. Phải nói ông Thục là người có công lao lớn trong công tác bảo vệ và phát triển rừng trong những năm trước đây và bây giờ”.

Do cánh rừng lim nhà ông gần đường nên năm 2013, nhà ông mất 2 cây gỗ lim to, đường kính 50cm. Từ hôm đó, việc tuần tra, kiểm tra luôn được ông Thục chú trọng hàng đầu. Giờ đây, tuy tuổi cao, không làm được đồng ruộng, nhưng hàng ngày ông vẫn lên đồi thăm từng cây lim.

Nhìn những cây gỗ lim đang lớn dần theo thời gian, khuôn mặt của ông già “gàn” như trẻ lại. Trong lòng con cháu ông và hàng xóm, ông là cây lim đại thụ giữa rừng lim xanh thẳm. (Đất Việt 18/10, tr18) Về đầu trang