CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2019 XUÂN KỶ HỢI

Điểm báo ngày 12/12/2018

Cập nhật ngày : 12/12/2018 03:40

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 12 tháng 12 năm 2018)

Hiệp định VPA/FLEGT: Chắp cánh cho gỗ Việt xuất khẩu trực tiếp vào thị trường EU

Việc Việt Nam tham gia ký Chương trình Thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) sẽ giúp các sản phẩm gỗ trong nước xuất khẩu trực tiếp vào 28 nước Liên minh châu Âu (EU) mà không cần phải qua một nước trung gian nào.

Gỗ Việt sẽ bay thẳng vào các nước EU khi tham gia Hiệp định VPA/FLEGT. Ảnh: Trần Quý

Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), 11 tháng năm 2018, xuất khẩu lâm sản chính đã vượt mức 8 tỷ USD. Ước giá trị xuất khẩu lâm sản chính cả năm đạt 9,3 tỷ USD. 

Cụ thể, giá trị xuất khẩu lâm sản chính 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 8,49 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 23,42% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn ngành.

Trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 7,22 tỷ USD, tăng 15,63% so với cùng kỳ 2017. Giá trị xuất siêu của lâm sản chính 11 tháng ước đạt 6,398 tỷ USD. Ước giá trị xuất khẩu lâm sản chính cả năm đạt 9,3 tỷ USD.

Đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đứng thứ 5 thế giới và số 1 châu Á trong lĩnh vực xuất khẩu gỗ và lâm sản.Đồ gỗ Việt Nam đã xuất khẩu sang 120 nước và vùng lãnh thổ. Trong đó, thị trường xuất khẩu lâm sản tập trung chủ yếu tại 5 thị trường lớn gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc và Hàn Quốc, chiếm khoảng 87,33% kim ngạch xuất khẩu lâm sản.

Riêng kim ngạch xuất khẩu gỗ sang EU dự kiến sẽ tăng gấp đôi, từ 700 triệu USD hiện nay lên hơn 1 tỷ USD sau khi Hiệp định VPA/FLEGT được ký kết và có hiệu lực.

Các cam kết của VPA/FLEGT đã được quy định trong Luật Lâm nghiệp Việt Nam, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2019. Đến đầu năm 2021, khi hiệp định chính thức đưa vào thực thi, cơ quan quản lý, người trồng rừng và doanh nghiệp (DN) gỗ Việt Nam sẽ sẵn sàng với các điều kiện cam kết.

Tại Hội nghị “Định hướng, giải pháp phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu” vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu, trong 10 năm tới, Việt Nam phải trở thành trung tâm sản xuất, kinh doanh các sản phẩm gỗ có thương hiệu trên thế giới. Xuất khẩu các sản phẩm gỗ phải đạt 18 - 20 tỷ USD vào năm 2025.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, với những kết quả đạt được từ các thị trường chính, con số kim ngạch xuất khẩu 20 tỷ USD với mặt hàng gỗ của Việt Nam vào năm 2025 hoàn toàn có thể đạt được.

Hiệp định VPA/FLEGT sẽ giúp Việt Nam cải thiện thể chế về quản lý rừng, giải quyết tình trạng khai thác và thương mại gỗ trái phép, góp phần phát triển bền vững ngành chế biến gỗ xuất khẩu. Hiệp định VPA/FLEGT được dự đoán sẽ mang lại tác động tích cực cho Việt Nam trên cả 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó nổi bật hơn cả là lợi ích về kinh tế.

Theo ông Nguyễn Quốc Trị - Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), việc thực thi Hiệp định VPA/FLEGT, các DN Việt Nam sẽ có quyền tiếp cận trực tiếp vào thị trường EU, mà không phải trải qua một quá trình kiểm tra tính hợp pháp rườm rà. Đây được xem là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với các nước không có một hiệp định VPA đầy đủ.

Ông Nguyễn Tôn Quyền - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam cho biết, với VPA/FLEGT, 100% gỗ xuất khẩu vào EU phải là gỗ hợp pháp, dù DN dùng gỗ nguyên liệu trong nước hay nhập khẩu thì vẫn phải đảm bảo đầy đủ hồ sơ, giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của gỗ. Điều này sẽ khiến cho chi phí tăng, DN phải thực hiện nhiều công đoạn để đảm bảo truy xuất nguồn gốc gỗ rõ ràng.

Hiệp định VPA/FLEGT giữa Việt Nam và EU được ký kết sẽ tạo điều kiện để Việt Nam vận hành hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp (gọi tắt là VNTLAS) phù hợp với đặc điểm chuỗi cung của Việt Nam và quy định của EU để xác minh, truy xuất nguồn gốc gỗ trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Đây là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép FLEGT cho các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang EU.

Đổi lại, các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam có giấy phép FLEGT sẽ không phải thực hiện trách nhiệm giải trình về nguồn gốc gỗ hợp pháp theo quy định EUTR995 khi xuất khẩu vào EU. Đây được coi là “giấy thông hành đặc biệt” để các lô hàng gỗ của ta được tự do vào EU mà không phải làm thủ tục xác minh nguồn gốc gỗ hợp pháp.

Khi thực hiện Hiệp định VPA/FLEGT, các sản phẩm gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp đã không còn là rào cản đối với DN Việt. Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, thực tế trong 10 năm trở lại đây, các DN chế biến, xuất khẩu gỗ đã làm rất tốt điều này, gỗ nguyên liệu đều có chứng chỉ rừng bền vững (FSC). Năm 2015, các DN trong hiệp hội cũng đã ký cam kết "nói không" với gỗ bất hợp pháp.

“Thay vì phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, vốn rất khó khăn trong quá trình tìm kiếm để đảm bảo nguồn gốc rõ ràng, các DN đã chủ động liên kết với người trồng rừng để phát triển rừng bền vững, có chứng chỉ FSC”, ông Quyền cho biết. (Thanh Tra 11/12, tr11) Về đầu trang

http://thanhtra.com.vn/kinh-te/thi-truong/hiep-dinh-vpaflegt-chap-canh-cho-go-viet-xuat-khau-truc-tiep-vao-thi-truong-eu_t114c1067n142365

Cấp chứng chỉ rừng bền vững cho 1 triệu ha rừng

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ tổ chức cấp chứng chỉ rừng cho 1 triệu ha rừng trồng sản xuất, phòng hộ. Việc cấp chứng chỉ rừng thành công sẽ giúp cho việc quản lý rừng bền vững, hướng tới mở rộng diện tích rừng trở thành bể hấp thụ cacbon, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Dù lợi ích lớn song để cấp chứng chỉ cho 1 triệu ha rừng là thách thức lớn đối với ngành lâm nghiệp nếu không có thêm những chính sách, giải pháp quyết liệt hơn trong thời gian tới.

Thống kê từ Vụ Phát triển sản xuất Lâm nghiệp (Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT) cho biết, đến nay, Việt Nam đã có khoảng 235.000 ha (88.000 ha rừng tự nhiên; 147.000 ha rừng trồng) đã được cấp chứng chỉ rừng bền vững. Đây là con số khá khiêm tốn so với tổng diện tích hơn 14 triệu ha rừng hiện nay của cả nước.

Mặc dù vậy, theo đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp, đây vẫn là nỗ lực lớn trong bối cảnh Việt Nam bước đầu tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng. Ghi nhận từ các địa phương qua một thời gian xây dựng và triển khai một số chính sách liên quan, chính quyền và cộng đồng dân cư nơi thực hiện các hoạt động quản lý rất đồng thuận với chủ trương và các hoạt động Quản lý rừng bền vững. Giá gỗ có chứng chỉ cao hơn không có chứng chỉ từ 15-20%, ngoài việc nâng cao giá trị về kinh tế còn giúp cho đầu ra của sản phẩm rất ổn định.

Cơ bản các chủ rừng Nhà nước (Các công ty lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng) đã tuân thủ theo các hướng dẫn của Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT-TCLN và đáp ứng được hầu hết các yêu cầu của tiêu chuẩn Quốc tế. Chính sách đối với rừng sản xuất của Chính phủ ban hành thể hiện tại Quy chế quản lý rừng sản xuất (Quyết định 49/2016/QĐ – TTg, ngày 1/11/2016) phần nào đã tạo cơ chế mềm dẻo và trao quyền chủ động trong quản lý và kinh doanh rừng cho các chủ rừng. Nhận thức về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường của cán bộ viên chức và cộng đồng dân cư trong vùng đã được nâng lên rõ rệt. Các hoạt động quản lý rừng bền vững cũng giúp chủ rừng cải thiện đáng kể hệ thống và phương pháp quản lý rừng.

Công nghiệp gỗ xuất khẩu của Việt Nam đa số được tiêu thụ tại các nước phát triển với quy định nghiêm ngặt điều kiện truy xuất nguồn gốc hợp pháp khi nhập khẩu. Chính vì vậy, khối doanh nghiệp tỏ ra hoan nghênh trồng rừng bền vững bởi có thể cùng lúc đạt hai mục đích: bảo vệ môi trường và tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành chế biến gỗ.  Đến cuối năm 2017, Việt Nam có đến 732 doanh nghiệp có chứng nhận Chuỗi hành trình (CoC/FSC) về xuất xứ của gỗ, đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Trong đó, 49 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ quản trị rừng bền vững (FSC/FM).

Đề án Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng của Chính phủ đặt mục tiêu sẽ duy trì toàn bộ diện tích rừng hiện đã được cấp chứng chỉ và từ nay đến 2020, sẽ cấp chứng chỉ rừng cho 300.000 ha rừng trồng sản xuất, phòng hộ của các tổ chức, hộ gia đình và ban quản lý rừng phòng hộ. Giai đoạn 2020 – 2030, con số này sẽ tăng lên 1.000.000 ha.

Theo Vụ Phát triển sản xuất Lâm nghiệp, thách thức hiện nay là nước ta đang thiếu chính sách đảm bảo quyền sử dụng đất không bị thu hồi hoặc chuyển quyền sử dụng đất trong thời gian tham gia quá trình Quản lý rừng bền vững.Việc làm thủ tục giao quyền sử dụng rừng và đất rừng cho các chủ rừng rất chậm, ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng. Thiếu các hướng dẫn kỹ thuật khai thác gỗ, lâm sản;tiêu thụ, sử dụng sản phẩm sau khai thác; chính sách về môi trường quy định cho chủ rừng thực hiện; ướng dẫn riêng cho rừng cộng đồng và các hộ/nhóm hộ nông dân với những hoạt động quản lý mang tính đặc thù…

Bên cạnh đó, nguồn kinh phí cho các hoạt động duy trì chứng chỉ rừng cũng là một vấn đề khó khăn, nhất là các đơn vị mà diện tích có chứng chỉ là rừng tự nhiên không được khai thác. Trên thực tế, chủ rừng hầu như không thể tiếp cận vốn vay ưu đãi của các ngân hàng; chưa có ưu đãi thuế cho chủ rừng thực hiện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, như thuế đất lâm nghiệp và nhất là thuế tài nguyên. Năng lực quản lý và kỹ thuật còn thiếu và yếu; chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu của Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng…

Để giải quyết các vấn đề này, trọng tâm của đề án là xây dựng văn bản pháp luật, tài liệu hướng dẫn thực hiện quản lý rừng bền vững, xây dựng Bộ Tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của Việt Nam. Một điểm thay đổi lớn trong Luật Lâm nghiệp mới đảm bảo thương mại sản phẩm gỗ có trách nhiệm và đẩy mạnh  quản lý rừng bền vững, sẽ có hiệu lực từ tháng 1/2019. Thông tư hướng dẫn nội dung này hiện đang được trình Chính phủ phê duyệt.

Đề án cũng sẽ tổ chức tập huấn xây dựng phương án quản lý rừng bền vững cho các chủ rừng, có kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện. Bên cạnh đó, xây dựng mô hình quản lý rừng bền vững hướng tới cấp chứng chỉ rừng tại một số địa phương; đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực, tuyên truyền xung quanh nội dung này. Trong thời gian tới, các cơ quan chuyên môn cũng sẽ thiết lập hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia nhằm đảm bảo triển khai các hoạt động cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững của Việt Nam phù hợp với thông lệ và quy định của hệ thống chứng chỉ rừng quốc tế. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 11/12) Về đầu trang

 https://baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong/cap-chung-chi-rung-ben-vung-cho-1-trieu-ha-rung-1263035.html

Trong 11 tháng, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,2 tỷ USD

Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, trong 11 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu lâm sản đạt 8,49 tỷ USD tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 8,2 tỷ USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước.

Theo đó, trong 11 tháng đầu năm 2018, các chỉ tiêu trồng rừng, bảo vệ, phát triển rừng đều đạt hoặc vượt mục tiêu đề ra. Tính cho đến tháng 11-2018, cả nước đã trồng 202.872 ha rừng, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 94,5% so với kế hoạch cả năm.

Trong đó, trồng rừng phòng hộ, đặc dụng được 12.857 ha, đạt 90,2% kế hoạch năm, tăng 2,6% so với cùng kỳ 2017. Trồng rừng sản xuất được 190.015 ha, đạt 97,1% kế hoạch năm, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 11 tháng, cả nước đã thu được 2.818 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng, đạt 121% kế hoạch năm và tăng 70% so với cùng kỳ 2017.

Kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 11-2018 ước đạt 937 triệu USD; lũy kế 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 8,2 tỷ USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ 2017.

Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm 79,6% tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.

Ở chiều nhập khẩu, giá trị nhập khẩu gỗ 11 tháng đầu năm 2018 đạt 2,09 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam, cụ thể là đồ gỗ nội thất được dự báo sẽ có nhiều triển vọng để mở rộng nhờ CPTPP có hiệu lực. Hầu hết các quốc gia tham gia CPTPP, đều có cam kết sẽ loại bỏ thuế và thuế quan đối với gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam ngay sau khi hiệp định này có hiệu lực.

Ngoài Nhật Bản, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sang các nước thành viên CPTPP cũng được dự báo sẽ có nhiều thuận lợi trong thời gian tới. (Pháp Luật & Xã Hội Online 11/12) Về đầu trang

 https://phapluatxahoi.vn/trong-11-thang-xuat-khau-go-va-san-pham-go-dat-82-ty-usd-130182.htmlv

Người dân vùng cao Lai Châu làm tốt công tác bảo vệ rừng

Những năm qua, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo được nhiều chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của đồng bào dân tộc xã Bum Tở, huyện Mường Tè (Lai Châu) về chăm sóc, bảo vệ rừng. Nguồn kinh phí dịch vụ môi trường rừng đã giúp bà con có nguồn thu nhập ổn định, vươn lên làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo bền vững.

Ông Vàng Lỳ Sơn, Chủ tịch UBND xã Bum Tở, huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu cho biết, xã Bum Tở có 9 bản, với tổng dân số gần 2.500 người, trong đó trên 90% là người dân tộc La Hủ. Năm 2017, các hộ dân trong xã đã được nhận gần 4 tỷ đồng từ tiền dịch vụ môi trường rừng; theo tính toán của các cơ quan chuyên môn, số tiền này sẽ được nhân lên gấp đôi vào năm 2018. Đây là nguồn thu nhập ổn định bền vững của bà con.

Xác định nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng có ý nghĩa quan trọng, UBND xã Bum Tở đã thành lập đội cơ động bảo vệ rừng với quân số gần 30 người gồm các lực lượng dân quân, Công an xã, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ. Tất cả các bản đều thành lập đội xung kích bảo vệ rừng và các hộ gia đình đã ký cam kết tham gia đội xung kích bảo vệ rừng. Đội xung kích tại các bản thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát, đánh giá tình hình và sẵn sàng phối hợp với người dân tham gia chữa cháy theo phương châm “4 tại chỗ”.

Từ việc cấp ủy, chính quyền xã Bum Tở nhận thức rõ hiệu quả của chính sách dịch vụ môi trường rừng và chủ động triển khai công tác chăm sóc bảo vệ rừng đã góp phần tạo chuyển biến tích cực trong người dân. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, cấp ủy, chính quyền xã đã phối hợp với cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục người dân về lợi ích của rừng; tổ chức ký kết các quy định bảo vệ rừng gắn với phòng cháy, chữa cháy rừng cho các hộ dân trên địa bàn. Đồng thời, thành lập các đội cơ động, xung kích bảo vệ rừng tại các bản yêu cầu các đôi chủ động phương án, chuẩn bị phương tiện, dụng cụ chữa cháy…

Đến bản Nậm Xả, xã Bum Tở những ngày đầu tháng 12 giá lạnh, hình ảnh bà con dân bản đang tập trung phát dọn cỏ, thu dọn thực bì, làm đường băng cản lửa, chúng tôi cảm nhận được ý thức giữ rừng của người dân nơi đây. Anh Vàng Giá Chừ, Trưởng bản Nậm Xả cho biết: Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, 101 hộ dân của bản đã được các cơ quan chuyên môn của huyện và xã giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp để chăm sóc, bảo vệ gần 1.000ha rừng. Người dân đã nhận thức sâu sắc việc giữ gìn, bảo vệ rừng; nhiều năm qua những khu rừng do dân bản quản lý chưa xảy ra cháy rừng. Từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các hộ dân trong bản đã có nguồn thu nhập ổn định. Năm 2017, trung bình mỗi hộ dân trong bản được chi trả gần 10 triệu đồng. Với nguồn vốn ổn định này, nhiều hộ dân sử dụng hiệu quả để phát triển kinh tế gia đình. Anh Vàng Giá Hừ chia sẻ: “Cuối năm 2016, gia đình được nhận 7 triệu đồng từ tiền dịch vụ môi trường rừng, cộng thêm khoản tiền vay 30 triệu đồng từ Ngân hàng chính sách xã hội huyện, tôi mua hai con bò cái sinh sản chăn nuôi dưới tán rừng được giao bảo vệ. Sau hơn 2 năm sinh trưởng tốt, bò sinh sản được 3 con. Gia đình tôi sẽ mua thêm bò, lợn, gà để chăn nuôi”.

Có được nguồn thu nhập ổn định từ rừng, ý thức bảo vệ rừng của dân bản đã được nâng lên. Để thực hiện tốt hơn việc chăm sóc và bảo vệ rừng, bản Nậm Xả đã thành lập đội xung kích bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng với sự tham gia của tất các hộ dân trong bản. Các thành viên của đội xung kích thường xuyên tổ chức tuần tra bảo vệ rừng, chủ động các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng. Người La Hủ ở Nậm Xả đã từ bỏ lối sống du canh, du cư, phá rừng làm nương rẫy, đốt rừng để bắt thú. Bà con chỉ làm nương tại những khu vực đã quy hoạch là đất sản xuất.

Theo ông Vàng Lỳ Sơn, Chủ tịch UBND xã Bum Tở, người dân được hưởng lợi từ rừng nên đã động viên nhau chung sức, quyết tâm chăm sóc bảo vệ rừng. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đem lại niềm tin và nguồn thu nhập ổn định, bền vững cho người dân để đồng bào dân tộc xã Bum Tở nâng cao ý thức giữ rừng. (Dantocmiennui.vn 11/12) Về đầu trang

http://dantocmiennui.vn/xa-hoi/nguoi-dan-vung-cao-lai-chau-lam-tot-cong-tac-bao-ve-rung/204425.html

 

Kiểm tra, xác minh diện tích rừng cung ứng DVMTR tại Điện Biên Đông

Nằm trong kế hoạch kiểm tra, xác minh diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), vừa qua, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên Đông, kiểm tra, xác minh biến động diện tích rừng được hưởng chi trả DVMTR trên địa bàn huyện.

Căn cứ kết quả theo dõi diễn biến rừng Quý III năm 2018 trên địa bàn tỉnh Điện Biên của Chi cục Kiểm Lâm; kết quả nghiệm thu diện tích rừng đủ điều kiện cung ứng dịch vụ môi trường rừng năm 2017 của Hạt kiểm lâm huyện Điện Biên Đông, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên xây dựng Kế hoạch kiểm tra, xác minh diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng biến động năm 2018 đối với các chủ rừng trên địa bàn huyện Điện Biên Đông với mục đích kiểm tra, xác minh diện tích, trạng thái, chất lượng rừng cung ứng DVMTR thuộc các lô rừng có biến động dựa vào kết quả theo dõi diễn biến rừng làm căn cứ chi trả thanh toán tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2018.

Ban điều hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên Đông, cùng đại diện các xã và chủ rừng trên địa bàn huyện tiến hành kiểm tra 100% vị trí, diện tích, trạng thái, trữ lượng các lô rừng chi trả tiền DVMTR biến động giữa bản đồ theo dõi diễn biến rừng quý III năm 2018 của Chi cục Kiềm lâm cung cấp với bản đồ giao đất giao rừng của UBND huyện Điện Biên Đông.

Các tổ kiểm tra xác minh được chia thành 2 tuyến: Tổ 1 kiểm tra, xác minh diện tích rừng cung ứng DVMTR biến động các xã: Xa Dung, Hàng Lìa, Tìa Dình, Keo Lôm, Chiềng Sơ, Pú Nhi, TT Điện Biên Đông. Tổ 2 kiểm tra, xác minh diện tích rừng cung ứng DVMTR biến động các xã: Phình Giàng, Pú Hồng, Phì Nhừ, Na Son, Nong U, Mường Luân, Luân Giói.

Phương pháp kiểm tra, xác minh được đo trực tiếp bằng GPS hoặc khoanh lô theo dốc đối diện để tính diện tích, lập ô tiêu chuẩn để xác định trạng thái, trữ lượng rừng; lập ít nhất một ô tiêu chuẩn điển hình diện tích 500m2 (cạnh 20m x25 m); rừng trồng 100m2 (cạnh 10 x10m).

Ông Lò văn Hương, Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Điện Biên Đông, cho biết: Diện tích rừng có nhiều biến động bởi vì năm 2016, diện tích rừng bị chết ngọn trắng xóa do ảnh hưởng của rét đậm, rét hại. Do đó, khi chụp ảnh vệ tinh thì diện tích rừng tại khu vực này không hiển thị. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, nhiều diện tích rừng bị chết đã tái sinh nên chúng tôi đã đề nghị giữ lại diện tích rừng này để được hưởng chi trả DVMTR.

Theo kế hoạch, thời gian thực hiện kiểm tra, xác minh diện tích rừng sẽ diễn ra trong 2 đợt. Đợt 1 từ 20/11/2018 đến hết 30/11/2018; đợt 2 từ 3/12/2018 đến hết 25/12/2018. Kết thúc đợt kiểm tra, xác minh, Tổ kiểm tra tổng hợp diện tích rừng đủ điều kiện cung ứng DVMTR, làm căn cứ để Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên chi trả tiền DVMTR năm 2018 cho các chủ rừng theo quy định. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 11/12) Về đầu trang

 https://baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong/kiem-tra-xac-minh-dien-tich-rung-cung-ung-dvmtr-tai-dien-bien-dong-1263075.html  

 

Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao trong lâm nghiệp

Ngày 11/12, Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với Trường ĐH Lâm nghiệp đã tổ chức hội thảo với chủ đề Định hướng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp”.

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, những năm gần đây, ngành lâm nghiệp đã và đang đẩy mạnh các ứng dụng khoa học công nghệ cao, nhất là vào các lĩnh vực như chọn tạo và nhân giống cây lâm nghiệp; quản lí và bảo vệ tài nguyên rừng; khai thác, vận chuyển, chế biến và bảo quản lâm sản... Điển hình trong công tác chọn tạo và nhân giống cây lâm nghiệp, ngành lâm nghiệp đang định hướng từng bước hoàn thiện công nghệ nhân giống bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào các loài cây trồng rừng chính có năng suất, chất lượng cao nhằm phục vụ trồng rừng kinh tế, rừng gỗ lớn. Các đơn vị nghiên cứu phối hợp với các DN để SX cây giống nuôi cấy mô phục vụ trồng rừng SX đại trà tại các địa phương. Sử dụng công nghệ gen để phân lập các gen đích có giá trị kinh tế, có tính chống chịu, tạo ra một số dòng cây chuyển gen mang gen đích có năng suất cao, sạch bệnh..., các giống lai mới có ưu thế; tạo các cây đa bội bằng đột biến có định hướng và tạo cây lai tam bội sinh trưởng vượt trội...

Theo GS.TS Trần Văn Chứ, Hiệu trưởng Trường ĐH Lâm nghiệp: Tại Đại học Lâm nghiệp, nhà trường hiện đã xây dựng “Định hướng hoạt động KH-CN giai đoạn 2018-2025” với mục đích xây dựng và phát triển Trường ĐH Lâm nghiệp thành một trung tâm khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ cao trong các lĩnh vực lâm nghiệp, tài nguyên môi trường, chế biến lâm sản, phòng  chống giảm nhẹ thiên tai nhằm nâng cao giá trị gia tăng của ngành lâm nghiệp phục vụ tái cơ cấu ngành...

Trong những năm gần đây cũng như định hướng thời gian tới, Trường ĐH Lâm nghiệp sẽ từng bước ứng dụng công nghệ cao trong các chương trình nghiên cứu, trong đó tập trung vào 3 mũi nhọn là ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại vào chọn tạo giống và nhân giống cây lâm nghiệp; ứng dụng công nghệ viễn thám trong điều tra quản lí tài nguyên rừng và công nghệ chế biến lâm sản. “Tới đây, nhà trường đã có kế hoạch cụ thể cho việc đầu tư nâng cấp, xây dựng mới các trung tâm nghiên cứu trọng điểm về nông – lâm nghiệp thông minh. Vừa qua, chúng tôi cũng đã cử 5 chuyên gia sang Trung Quốc để hợp tác với các đơn vị nghiên cứu của nước bạn về lĩnh vực công nghệ cao trong lâm nghiệp” – ông Chứ cho biết.

Tại hội thảo, khoảng 200 đại biểu là các nhà quản lí đến từ Tổng cục Lâm nghiệp, Sở NN-PTNT các tỉnh, các nhà khoa học trong và ngoài nước, cùng đông đảo các DN trong ngành lâm nghiệp, nhất là chế biến gỗ đã có mặt và đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết cho chiến lược đưa ứng dụng thông minh vào SX lâm nghiệp cũng như ngành công nghiệp chế biến gỗ. Nhiều DN trong ngành chế biến gỗ đề nghị: Hiện nay, vấn đề nhân lực, nhất là lực lượng lao động trẻ và có trình độ cao phục vụ trong ngành chế biến gỗ đang rất khan hiếm. Vì vậy, Trường ĐH Lâm nghiệp chính là nơi đóng vai trò quan trọng để đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực này cho các DN, tránh tình trạng DN tuyển lao động vào phải đào tạo lại rất lãng phí... “Chúng tôi sẵn sàng trả lương và hỗ trợ kinh phí để nhà trường hợp tác trong đào tạo nhân lực, nhất là nghiên cứu các ứng dụng công nghệ trong chế biến gỗ” – GĐ một DN chế biến gỗ đến từ Nam Định cho biết.

Bên cạnh đó, tại hội thảo, nhiều đại biểu là đại diện các DN chế biến gỗ cũng bày tỏ mong muốn Trường ĐH Lâm nghiệp nói riêng, các đơn vị khoa học trong ngành lâm nghiệp nói chung cần đầu tư hơn nữa, trên cơ sở hợp tác với các DN để tập trung nguồn lực cho việc nghiên cứu các công nghệ sấy gỗ, sơn gỗ giảm thiểu ô nhiễm, tăng giá trị cho đồ gỗ, nhất là nghiên cứu về giống cây lâm nghiệp trồng rừng SX theo hướng gỗ lớn có giá trị cao. Bởi hiện nay, chủng loại cây lâm nghiệp còn quá nghèo nàn, chủ yếu chỉ có keo và bạch đàn. Trong khi đó, đa số người dân trồng rừng phải “ăn non”, khai thác rừng khi chỉ có 4-5 tuổi. Vì vậy, cần phải có các giống cây lầm nghiệp để trồng rừng SX thu gỗ lớn, ít nhất chu kỳ phải từ 7 năm trở lên. (Nông Nghiệp Việt Nam Online 11/12) Về đầu trang

 https://nongnghiep.vn/day-manh-nghien-cuu-ung-dung-cong-nghe-cao-trong-lam-nghiep-post232699.html

Bảo vệ rừng vùng giáp ranh

Thời gian qua, TP Hà Nội đã phối hợp hiệu quả với 8 tỉnh giáp ranh trong phòng cháy, chữa cháy rừng; quản lý rừng, đất lâm nghiệp và hoạt động sản xuất - kinh doanh lâm sản...

Ông Đỗ Ngọc Đoàn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Thọ chia sẻ: Do địa bàn rộng, địa hình phức tạp, dân cư phân tán, trình độ dân trí hạn chế, kinh tế phát triển chậm, đời sống của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn dẫn tới công tác bảo vệ rừng cũng như lập lại trật tự kinh doanh lâm sản của tỉnh lâu nay gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nhờ công tác phối hợp giữa TP Hà Nội và tỉnh Phú Thọ, việc xử lý các vụ buôn bán trái phép lâm sản trên sông Đà và ở các xã giáp ranh khá thuận lợi, qua đó kịp thời xử lý, ngăn chặn hàng trăm vụ vi phạm về bảo vệ rừng.

Còn tại tỉnh Thái Nguyên, trước đây việc lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp trái phép thường xuyên xảy ra, gây mất an ninh trật tự, nguy cơ cháy rừng cao. Kể từ khi thực hiện công tác phối hợp với Hà Nội, trách nhiệm các bên rõ ràng, nên tình trạng trên hầu như chấm dứt, không còn cảnh “cha chung không ai khóc”. Khi có vi phạm xảy ra, hai bên đã phối hợp xử lý nhanh gọn, hiệu quả.

Ông Lê Minh Tuyên, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cho biết, ngay sau khi triển khai Quy chế phối hợp, chi cục kiểm lâm các tỉnh, thành phố đã cùng nhau nâng cao trách nhiệm, hiệu quả việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Các chi cục cũng tăng cường hợp tác, chia sẻ thông tin; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn và xử lý các trường hợp lấn chiếm rừng, hủy hoại rừng, gây cháy rừng, vận chuyển, mua bán, kinh doanh lâm sản, săn, bắt động vật hoang dã trái phép... Cái được nữa của công tác phối hợp là các cấp ủy, chính quyền và người dân địa phương đã nâng cao trách nhiệm bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. Đối với điểm nóng có nguy cơ xảy ra cháy rừng ở khu vực giáp ranh xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) với xã Minh Trí (huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội), trong quá trình phối hợp, hai địa phương đã xử lý hiệu quả 6 vụ cháy rừng...

Tuy nhiên, công tác phối hợp đã xuất hiện một số khó khăn do vùng giáp ranh trải dài giữa các địa phương, kinh phí phục vụ công tác này giữa các hạt kiểm lâm còn hạn chế; lực lượng kiểm lâm ở các vùng giáp ranh mỏng; phương tiện, kinh phí hỗ trợ cho việc tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng vùng giáp ranh cho kiểm lâm hầu như không có.

Tại cuộc họp đánh giá rút kinh nghiệm trong công tác phối hợp mới đây, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội và 8 tỉnh (Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hà Nam, Phúc Thọ, Bắc Ninh, Hòa Bình, Hưng Yên, Bắc Giang) đã thống nhất chủ động tham mưu UBND các cấp kịp thời có biện pháp truy quét, ngăn chặn hiệu quả việc khai thác, vận chuyển, mua bán gỗ vùng giáp ranh, xóa các điểm nóng; tăng cường giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đối với điểm nóng có nguy cơ xảy ra phá rừng, các chi cục kiểm lâm thực hiện tốt hơn nữa việc trao đổi thông tin, lập danh sách, quản lý các đối tượng khai thác, buôn bán gỗ tại địa phương. Chi cục kiểm lâm các tỉnh, thành phố có nhiều biện pháp giúp đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực giáp ranh nâng cao đời sống, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, không phụ thuộc vào rừng. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm các địa phương tiếp tục tăng cường phối hợp tuần tra chung nhằm kịp thời ngăn chặn các hành vi vi phạm về bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng... Duy trì chế độ giao ban, trao đổi thông tin thường xuyên trong quản lý, bảo vệ rừng vùng giáp ranh. (Hà Nội Mới 12/12, tr6; Hà Nội Mới Online 12/12) Về đầu trang

 http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Kinh-te/921303/-bao-ve-rung-vung-giap-ranh

Người dân Bắc Kạn đẩy mạnh phong trào trồng rừng

Với nhiều chính sách khuyến khích phát triển cùng với việc các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất hiện ngày càng nhiều, giá trị rừng trồng được nâng lên rõ rệt nên phong trào trồng rừng của người dân tỉnh Bắc Kạn cũng đang được đẩy mạnh, nhiều hộ dân tự bỏ vốn trồng rừng, coi trồng rừng là một hướng phát triển kinh tế hiệu quả.

Trong 3 năm 2016 – 2018, toàn tỉnh đã trồng mới trên 20.000ha (bình quân mỗi năm trồng được gần 7.000 ha), trong đó diện tích cây gỗ lớn đạt trên 9.000ha. Sản lượng gỗ rừng trồng khai thác đạt trên 165.000m3/năm. Người trồng rừng cũng bắt đầu hưởng lợi trong việc khai thác rừng trồng các năm trước đây. Với rừng trồng từ 2010, trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020, người trồng rừng sẽ được hưởng lợi từ việc khai thác rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ (chủ yếu là khai thác rừng trồng Keo, một số diện tích rừng trồng Mỡ …) Bình quân mỗi năm khai thác khoảng 2.000 ha, năng suất khoảng 80m3/ha, tổng sản lượng gỗ/năm khoảng 160.000m3, giá bán bình quân khoảng 800.000 đồng/m3, mỗi ha thu được khoảng 64 triệu đồng, tổng giá trị thu được khoảng 128 tỷ đồng/năm. Từ năm 2021 trở đi, người trồng rừng sẽ được hưởng lợi từ việc khai thác rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ (chủ yếu là khai thác rừng trồng Keo, một số diện tích rừng trồng Mỡ …) trồng từ năm 2013 trở đi và khai thác rừng trồng gỗ lớn các năm trước. Bình quân mỗi năm khai thác khoảng 3.000 ha, năng suất khoảng 120m3/ha, tổng sản lượng gỗ/năm khoảng 360.000m3, giá bán bình quân khoảng 1.000.000 đồng/m3, mỗi ha thu được khoảng 120 triệu đồng, tổng giá trị thu được khoảng 360 tỷ đồng/năm. Giá trị hưởng lợi của các chủ rừng từ khai thác trồng rừng kinh doanh gỗ lớn sẽ tăng trong những năm tiếp theo. (Backantv.vn 11/12) Về đầu trang

http://backantv.vn/tin-tuc-n27179/nguoi-dan-bac-kan-day-manh-phong-trao-trong-rung.html

Bảo vệ rừng thượng nguồn Ea Krông Rou

Trên địa bàn thị xã Ninh Hòa hiện nay chỉ còn khu vực rừng thượng nguồn hồ thủy điện Ea Krông Rou giáp ranh, chồng lấn giữa 2 tỉnh Khánh Hòa, Đắk Lắk là còn rừng tự nhiên với trữ lượng khá lớn. Để bảo vệ khu vực rừng giáp ranh, nhất là vào dịp Tết sắp đến, các lực lượng của 2 địa phương liên tục phối hợp tuần tra, truy quét sâu vào rừng.

Năm 2018, khu vực rừng tự nhiên ở thượng nguồn hồ thủy điện Ea Krông Rou đã trở thành “điểm nóng” về tình trạng khai thác lâm sản trái phép. Qua tuần tra, truy quét, lực lượng kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa phát hiện hàng trăm khúc gỗ xẻ hộp được khai thác từ địa bàn giáp ranh, chồng lấn giữa Khánh Hòa và Đắk Lắk. Gỗ được các đối tượng kéo xuống, tập kết cất giấu dưới lòng hồ thủy điện Ea Krông Rou. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm, chủ rừng còn phát hiện, thu gom một số lâm sản khai thác, cất giấu rải rác trái phép tại khu vực này.

Mới đây, Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa phối hợp với Hạt Kiểm lâm núi Vọng Phu (tỉnh Đắk Lắk) kiểm tra khu vực rừng giáp ranh, chồng lấn giữa 2 tỉnh Khánh Hòa - Đắk Lắk. Tại tiểu khu 792, lực lượng chức năng phát hiện 1 lán trại của người đi rừng, 1 cưa máy, 3 hộp gỗ tạp khối lượng khoảng 0,4m3. Dọc theo tuyến tuần tra, đoàn còn phát hiện 4 gốc cây gỗ tạp đường kính 35 - 50cm bị các đối tượng cắt hạ, xẻ hộp.

Ông Nguyễn Văn Thịnh - Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Ninh Xuân cho hay: “Qua đợt kiểm tra gần nhất, có thể thấy tình trạng khai thác lâm sản trái phép vẫn còn diễn ra ở khu vực thượng nguồn hồ thủy điện Ea Krông Rou, nhất là khu vực rừng tự nhiên giáp ranh, chồng lấn giữa 2 tỉnh Khánh Hòa và Đắk Lắk, tuy nhiên tình trạng không “nóng” như các tháng đầu năm 2018. Ngoài ra, kiểm tra khu vực lòng hồ thủy điện Ea Krông Rou không thấy dấu hiệu tập kết, cất giấu gỗ. Có thể khẳng định tình hình khai thác, cất giấu, vận chuyển lâm sản trái phép tại khu vực Ea Krông Rou đã tạm yên”.

Theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm núi Vọng Phu, để tăng cường phối hợp bảo vệ rừng giáp ranh giữa 2 địa phương, hạt đã chỉ đạo Trạm Kiểm lâm cửa rừng số 1 xã Ea Trang thường xuyên phối hợp với Trạm Quản lý - Bảo vệ rừng Ea Krông Rou (Ban Quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa), Trạm Kiểm lâm Ninh Xuân (Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa) tiến hành tuần tra, bảo vệ rừng tự nhiên tại khu vực giáp ranh 2 bên quản lý. Từ đó, nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng. Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm núi Vọng Phu còn cử 2 nhân viên kiểm lâm đến ở lại Trạm Quản lý - Bảo vệ rừng Ea Krông Rou để liên tục tuần tra bảo vệ rừng khu vực giáp ranh từ nay đến Tết Nguyên đán.

Ông Trần Ngọc Dục - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa cho biết: “Vấn đề chúng tôi quan tâm nhất hiện nay là cứ vào mỗi dịp trước Tết, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tại khu vực thượng nguồn hồ thủy điện Ea Krông Rou lại diễn biến phức tạp. Do đó, bên cạnh thực hiện các kế hoạch bảo vệ rừng giáp ranh giữa Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa với các đơn vị thuộc tỉnh bạn, từ đầu tháng 11 cho đến sau Tết Nguyên đán, lực lượng của Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa sẽ phối hợp với chủ rừng, lực lượng kiểm lâm núi Vọng Phu liên tục tuần tra, truy quét sâu vào rừng để ngăn chặn không cho lâm tặc phá rừng, nhằm bảo vệ tốt hơn diện tích rừng tự nhiên tại khu vực thượng nguồn Ea Krông Rou”. (Tinhuykhanhhoa.vn 11/12) Về đầu trang

http://tinhuykhanhhoa.vn/tin-chi-tiet/id/2798/Bao-ve-rung-thuong-nguon-Ea-Krong-Rou

Giao rừng cho cộng đồng quản lý, bảo vệ  ở Quảng Nam: Hiệu quả từ thực tiễn

Thực tiễn ở nhiều địa phương miền núi trong tỉnh, việc giao rừng do UBND xã quản lý cho cộng đồng quản lý, bảo vệ, chăm sóc bước đầu phát huy hiệu quả.

Tại một số địa phương trên địa bàn huyện Nam Giang như thị trấn Thạnh Mỹ, UBND xã Cà Dy, nhiều diện tích rừng do UBND xã/thị trấn quản lý đã được giao cho cộng đồng thôn quản lý, bảo vệ và bước đầu có hiệu quả tích cực. Tại Thạnh Mỹ, diện tích rừng ở thôn Mực, thôn Dung, thôn Pà Dương, Pà Dấu hiện đã được giao hết cho cộng đồng thôn quản lý, bảo vệ. Trong đó, thôn Mực có 259 hộ, hơn 150 hộ nghèo, thôn đã thành lập 3 tổ quản lý bảo vệ rừng với 88 thành viên. Ngoài nguồn kinh phí nhận được từ công tác quản lý, bảo vệ rừng, địa phương còn hỗ trợ vật nuôi như gà, vịt, hỗ trợ cây keo giống để người dân hưởng lợi.

Từ khi các tổ quản lý bảo vệ rừng hoạt động, có sự giám sát của ban quản lý cộng đồng thôn ở các địa phương, tình trạng phá rừng đã giảm hẳn. Anh A hó Ben, thành viên Tổ quản lý bảo vệ rừng thuộc nhóm 3 (thôn Dung) chia sẻ, anh tham gia tổ bảo vệ rừng đã được 4 năm. “Mình không thể đi hết một lượt mà lên lịch để đi. Không chỉ bảo vệ rừng khỏi bị chặt phá, những thành viên của tổ còn được hưởng lợi từ rừng như khai thác lâm sản phụ gồm mây rừng, mật ong, nấm... nên đời sống có phần được cải thiện” - A hó Ben chia sẻ.

Ông Doãn Bing - Chủ tịch UBND xã Cà Dy cho biết, diện tích có rừng trên địa bàn xã khoảng 11.000ha, hiện có khoảng 30 - 40% người dân được hưởng lợi từ rừng từ cơ chế giao khoán, hỗ trợ cấp giống cây trồng, con vật nuôi... Ban quản lý bảo vệ rừng của xã hoạt động với 15 người; ở mỗi thôn có tổ quản lý rừng gồm 9 - 15 thành viên, riêng thôn Rô có tới 15 người do diện tích lớn. “Rừng do xã quản lý hiện nay nên giao cho nhóm hộ thì dân chủ hơn vì cộng đồng là những người gắn bó với rừng. Họ nắm bắt rất tốt các vụ vi phạm khai thác rừng mà các đối tượng là người nơi khác đến. Khi giao rừng cho cộng đồng thì rừng gắn với lợi ích người dân, người dân cũng bám rừng tốt hơn” - ông Doãn Bing nói.

Tại xã Phước Lộc (Phước Sơn), việc thí điểm giao rừng cho cộng đồng quản lý, bảo vệ bước đầu phát huy hiệu quả. Theo ông Hồ Văn Long - Phó Chủ tịch UBND xã Phước Lộc, hiện diện tích rừng do UBND xã làm chủ khoảng 300ha, phần lớn đã giao cho 6 thôn. Thuận lợi là bà con người bản địa, thường xuyên đi rừng nên nắm bắt được đâu là rừng tốt, đâu là diện tích mình quản lý. Khi phát hiện sai phạm họ kịp thời phản ánh, lập biên bản, báo cáo lên trên. Xã Phước Lộc hướng đến việc phát triển các loài cây dược liệu dưới tán rừng như trồng cây đẳng sâm, ba kích, sâm 7 lá... hỗ trợ giống đến cộng đồng giúp tăng sinh kế từ rừng. Ngoài Phước Lộc, xã Phước Xuân cũng triển khai thí điểm giao rừng cho cộng đồng...

Trên địa bàn Quảng Nam có nhiều mô hình giao khoán cho cộng đồng và lập tổ tuần tra bảo vệ rừng. Theo Sở NN&PTNT, giao rừng cho cộng đồng được xem là mô hình được nhiều địa phương đánh giá phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Hiện một số đơn vị như Ban Quản lý rừng phòng hộ A Vương, Sông Kôn cũng đề xuất tỉnh chuyển hình thức giao khoán cho cộng đồng mà nòng cốt là tổ bảo vệ rừng cộng đồng. Tuy chưa có mô hình nào là đúng cho mọi trường hợp, song qua thực tiễn thì mô hình giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng mà nòng cốt là tổ bảo vệ rừng của cộng đồng (gồm những người khỏe mạnh, tâm huyết bảo vệ rừng) đã bảo vệ rừng hiệu quả hơn, số tiền người tham gia được nhận tăng lên.

Ông Lê Minh Hưng - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết, sở đã đề xuất tỉnh nhân rộng mô hình giao rừng tự nhiên do xã quản lý cho cộng đồng. Sở NN&PTNT tiếp tục xây dựng kế hoạch giao rừng cho cộng đồng, dự kiến triển khai thí điểm ở Nam Giang, Tây Giang với diện tích hơn 3.000ha. Cùng với đó, Dự án Kwf10 cũng triển khai giao rừng do UBND xã quản lý cho cộng đồng tại huyện Nam Giang và Phước Sơn, Nam Trà My. Dự án Kwf10 ngoài hỗ trợ quỹ bảo vệ rừng còn hỗ trợ quỹ hỗ trợ thôn bản nhằm tạo điều kiện phát triển sinh kế cho người dân vùng dự án. Mô hình đang tiếp tục nhân rộng, đồng thời thực hiện Nghị định 75 của Chính phủ về các chủ trương, cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số. “Theo đề xuất của Sở NN&PTNT, đối với rừng tự nhiên chưa có chính sách nào đầu tư, cơ chế quản lý bảo vệ sẽ tiến hành giao cho cộng đồng và được hưởng cơ chế từ Nghị định 75 (dự kiến có 94.000ha). Hai năm qua, tỉnh mới giao khoán trên dưới 75.000ha và tiếp tục giao trong thời gian tới. Toàn bộ diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh sẽ được giao khoán quản lý bảo vệ và phát triển từ nhiều chương trình, chính sách” - ông Hưng nói.

Theo ông Lê Minh Hưng, năm 2019, Sở NN&PTNT kiến nghị tỉnh tiếp tục bổ sung ngân sách, giao cho các xã tổ chức các đội chuyên trách bảo vệ rừng. Rừng bây giờ phải giao cho cộng đồng quản lý, không giao khoán cho nhóm hộ, hộ gia đình chung chung như trước đây nữa. Chủ trương của tỉnh là thống nhất giao quyền chủ động cho các chủ rừng, tức là các ban quản lý rừng sẽ ký kết hợp đồng với các đội bảo vệ rừng chuyên trách. Mỗi thôn sẽ tuyển chọn một số người ở địa phương, thành lập một số tổ 5 - 7 người/tổ, tùy theo diện tích. Quy mô dự kiến khoảng 100 - 150ha sẽ tuyển dụng 1 người, sẽ trả lương, công tác phí, bảo hiểm như viên chức, được ký hợp đồng lâu dài. Ban quản lý rừng cộng đồng xã, thôn được thành lập sẽ điều hành lực lượng đó. Lực lượng tổ bảo vệ rừng cộng đồng phải đi tuần tra, quản lý rừng liên tục dưới sự giám sát của các ban. Tỉnh sẽ trang bị máy tính bảng cung cấp xuống tới xã, tới chủ rừng, tới kiểm lâm trên địa bàn giúp theo dõi diễn biến rừng, theo dõi công tác tuần tra, bảo vệ rừng tốt hơn. Với đà này, rừng sẽ được bảo vệ tốt hơn, cuộc sống người dân cũng sẽ được cải thiện. (Baoquangnam.vn 11/12) Về đầu trang

http://baoquangnam.vn/xa-hoi/201812/giao-rung-cho-cong-dong-quan-ly-bao-ve-hieu-qua-tu-thuc-tien-828474/

Vĩnh Phúc: Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ rừng

Thực hiện Nghị quyết số 28 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh, Công ty Lâm nghiệp Lập Thạch đã có bước phát triển mạnh mẽ, trở thành đơn vị tiêu biểu, dẫn đầu trong phong trào phát triển kinh tế của Tổng Công ty Giấy Việt Nam, đóng góp không nhỏ thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.

Tổng diện tích rừng và đất rừng công ty đang quản lý, sử dụng, khai thác là hơn 1.500 ha, nằm trên địa bàn 12 xã, thị trấn của 3 huyện Lập Thạch, Sông Lô và Tam Đảo. Ngoài nhiệm vụ trồng rừng nguyên liệu, chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác, thu mua gỗ nguyên liệu cung cấp cho Công ty Giấy Bãi Bằng, hiện nay, Công ty đang đưa vào sản xuất 3 giống Bạch đàn mới là CT3, CT4, UB99 là những giống cao sản với khả năng sinh trưởng mạnh và chống chịu sâu bệnh tốt, góp phần nâng cao đáng kể thu nhập của người trồng rừng.

Hiệu quả sản xuất, kinh doanh của công ty không chỉ thể hiện qua doanh thu trong những năm gần đây luôn đạt xấp xỉ và vượt 10 tỷ đồng/năm, đóng góp vào ngân sách Nhà nước hàng trăm triệu đồng tiền thuế. Quan trọng hơn, với vai trò đầu tàu, mạnh dạn trong đầu tư, đổi mới, sáng tạo trong cách làm, đảm bảo hài hòa lợi ích tập thể với cá nhân đã tạo ra sự gắn kết, phong trào thi đua phát triển kinh tế sôi nổi, rộng khắp trong toàn thể cán bộ, người lao động trong công ty và với người dân địa phương được giao khoán trồng rừng.

Đi đôi với phát triển kinh tế, công ty đặc biệt chú trọng tới công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng gắn với trách nhiệm, quyền lợi của từng cán bộ, người lao động trong đơn vị. 7 đội sản xuất lâm nghiệp của công ty nằm trên địa bàn 9 xã, thường xuyên canh gác, bảo vệ rừng 24/24h; thường xuyên trao đổi thông tin, tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan chức năng để thực hiện tốt công tác bảo vệ tài nguyên rừng. (Vinhphuctv.vn 11/12) Về đầu trang

http://vinhphuctv.vn/tin-bai/Trong-tinh/phat-trien-kinh-te-gan-voi-bao-ve-rung/51-562-270963

Chủ rừng phải tổ chức thực tập phương án chữa cháy rừng

Nội dung trên quy định tại Điều 45 Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019. Cũng theo Nghị định, các khu rừng phải có quy định, nội quy về phòng cháy và chữa cháy rừng; có biển báo, biển cấm lửa được bố trí tại các vị trí quy định, phù hợp với đặc điểm và tính chất cháy của từng loại rừng; có phương án phòng cháy và chữa cháy rừng quy định tại Điều 45 của Nghị định này; có các công trình phòng cháy và chữa cháy rừng phù hợp với đặc điểm và tính chất của từng loại rừng; trang bị phương tiện, dụng cụ phòng cháy và chữa cháy rừng phù hợp với đặc điểm và tính chất cháy của từng loại rừng theo phương án phòng cháy và chữa cháy rừng; có lực lượng phòng cháy và chữa cháy được huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy rừng và tổ chức thường trực sẵn sàng, đáp ứng yêu cầu chữa cháy tại chỗ; có hồ sơ quản lý, theo dõi hoạt động phòng cháy và chữa cháy rừng theo quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy.

Khi đốt nương, rẫy, đốt thực bì để chuẩn bị đất trồng rừng và làm giảm vật liệu cháy trong rừng, người sử dụng lửa phải thực hiện biện pháp an toàn phòng cháy và chữa cháy; không đốt vào những ngày có dự báo nguy cơ cháy rừng ở cấp IV, cấp V... Đối với các khu rừng có đường dây điện cao thế đi qua và công trình có nguy cơ gây cháy rừng phải có đường băng cản lửa, hành lang an toàn phù hợp với từng loại công trình theo quy định của pháp luật và thường xuyên kiểm tra, dọn sạch vật liệu cháy trong đường băng cản lửa.

Nghị định nêu rõ chủ rừng; đội phòng cháy và chữa cháy rừng nơi gần nhất; cơ quan Kiểm lâm hoặc cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ nơi gần nhất; chính quyền địa phương sở tại hoặc cơ quan Công an, Quân đội nơi gần nhất khi nhận được tin báo về cháy rừng xảy ra trong địa bàn được phân công quản lý phải nhanh chóng huy động lực lượng, phương tiện đến tổ chức chữa cháy, đồng thời báo cho các cơ quan, đơn vị cần thiết khác biết để chi viện chữa cháy; trường hợp cháy rừng xảy ra ngoài địa bàn được phân công quản lý thì sau khi nhận được tin báo cháy phải bằng mọi cách nhanh chóng báo cho các cơ quan, đơn vị quản lý địa bàn nơi xảy ra cháy biết để xử lý và tham gia chữa cháy rừng.

Chủ rừng xác định mức độ rừng bị thiệt hại sau khi cháy. Căn cứ mức độ thiệt hại, chủ rừng xác định và thực hiện các giải pháp phục hồi rừng sau khi cháy gồm: khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên hoặc có trồng bổ sung hoặc trồng rừng mới.

Huyện Nậm Pồ có tổng diện tích tự nhiên gần 149.560ha, diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 59.143,60ha rừng. Trong đó đã giao 49.350ha cho 129 chủ rừng là cộng đồng dân cư, hộ gia đình, tổ chức quản lý và bảo vệ. Từ các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng trong 5 năm qua, các chủ rừng đã được hưởng lợi gần 120 tỷ đồng từ Dịch vụ môi trường rừng. Riêng năm 2018, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Điện Biên đã tổ chức chi trả hơn 53 tỷ đồng tiền DVMTR cho 127 chủ rừng (hơn 38 tỷ đồng tiền DVMTR năm 2017 và chi trả tạm ứng gần 15 tỷ đồng tiền DVMTR năm 2018). Qua việc chi trả DVMTR cho thấy, quản lý rừng dựa vào cộng đồng, đồng thời cũng là cách cải thiện kế sinh nhai cho người dân, đặc biệt cho những người có cuộc sống phụ thuộc vào rừng. Như vậy, cộng đồng cư dân địa phương, các chủ rừng là những người đầu tiên hưởng lợi trong các hoạt động quản lý rừng bền vững.

Tuy nhiên, theo thống kê của cơ quan chức năng huyện, trong năm 2018 đã phát hiện và xử lý 25 vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trong đó có 15 vụ phá rừng, gây thiệt hại về rừng sản xuất 4.106m2, rừng phòng hộ là 11.951m2. Có thể thấy, hậu quả của phá rừng cùng với tập quán đốt nương làm rẫy của một bộ phận người dân đã làm gia tăng diện tích đất trống, đồi trọc, đất thoái hóa, bạc màu, làm suy giảm khả năng điều tiết môi trường của rừng, cạn kiệt nguồn nước vào mùa khô, gây lũ ống, lũ quét vào mùa mưa, đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân một số xã trên địa bàn huyện.

Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp việc làm, tạo an ninh sinh kế cho những cộng đồng cư dân sống trong khu vực có rừng. Vì vậy, bên cạnh sự vào cuộc của các cơ quan chức năng huyện, thì công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng chỉ có thể giành thắng lợi khi chính người dân, các chủ rừng có trách nhiệm và quyết liệt hơn. Trước những nhu cầu của cuộc sống, thì sự cân nhắc giữa lợi ích cá nhân và lợi ích của cộng đồng, sẽ giúp chúng ta nhận rõ việc làm này còn có ý nghĩa lớn hơn khi tạo nền tảng cho một cuộc sống vững bền. Chung tay để bảo vệ và phát triển rừng vì cuộc sống của chúng ta hôm nay và tương lai. (Huyennampo.gov.vn 11/12) Về đầu trang

http://huyennampo.gov.vn/Tintuc/View/Chu-rung-phai-to-chuc-thuc-tap-phuong-an-chua-chay-rung 

Hải Dương: Số hộ nuôi động vật hoang dã giảm

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện nay toàn tỉnh có 80 hộ nuôi động vật hoang dã (ĐVHD), giảm 40 hộ so với đầu năm 2017.

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện nay toàn tỉnh có 80 hộ nuôi động vật hoang dã (ĐVHD), giảm 40 hộ so với đầu năm 2017. Trong đó, có 8 hộ nuôi gấu, 56 hộ nuôi ĐVHD thuộc nhóm IIB (nhóm nguy cấp, quý hiếm) và 16 hộ nuôi ĐVHD nhóm thông thường. Nguyên nhân do những năm gần đây, giá bán, thị trường tiêu thụ sản phẩm ĐVHD (chủ yếu là Trung Quốc) không ổn định.

Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã cấp giấy chứng nhận cho các hộ gây nuôi, gắn chip điện tử theo dõi cá thể gấu. Đồng thời thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn các hộ kê khai số lượng và xác minh nguồn gốc vật nuôi khi xuất bán. (Baohaiduong.vn 11/12) Về đầu trang

https://www.baohaiduong.vn/kinh-te---tieu-dung/so-ho-nuoi-dong-vat-hoang-da-giam-101033