Điểm báo ngày 05/11/2018

Cập nhật ngày : 07/11/2018 09:25

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 05 tháng 11 năm 2018)

 

Hiệp định VPA/FLEGT sẽ giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu

Sau hơn 6 năm đàm phán với hàng chục phiên đàm phán cấp cao, đàm phán kỹ thuật, họp trực tuyến cùng các hội thảo tham vấn, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã ký Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT).

Hiệp định VPA/FLEGT sẽ giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, cải thiện thể chế về quản lý rừng, giải quyết tình trạng khai thác và thương mại gỗ trái phép, góp phần phát triển bền vững ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam.

Với Hiệp định này, Việt Nam cam kết xây dựng và vận hành Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam (gọi tắt là VNTLAS) phù hợp với đặc điểm chuỗi cung của Việt Nam và quy định của EU. Qua đó để xác minh, truy xuất nguồn gốc gỗ trong toàn bộ chuỗi cung làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép FLEGT cho các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang EU.

Đổi lại, các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam có giấy phép FLEGT sẽ không phải thực hiện trách nhiệm giải trình về nguồn gốc gỗ hợp pháp khi xuất khẩu vào EU. Đây được coi là “Giấy thông hành đặc biệt” do chính các cơ quan Việt Nam cấp để các lô hàng được tự do vào EU mà không phải làm thủ tục xác minh nguồn gốc gỗ hợp pháp.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết, thương mại gỗ và sản phẩm gỗ hợp pháp và bền vững phù hợp với các mục tiêu phát triển và nỗ lực của Việt Nam nhằm bảo vệ rừng và hạn chế biến đổi khí hậu. Không chỉ đảm bảo rằng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang EU có nguồn gốc hợp pháp mà gỗ khai thác bất hợp pháp cũng không được đưa vào thị trường Việt Nam.

Hiệp định VPA/FLEGT được dự đoán sẽ mang lại tác động tích cực cho Việt Nam trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường; trong đó nổi bật hơn cả là lợi ích về kinh tế, đặc biệt góp phần thúc đẩy thị trường xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tại các thị trường khác.

Đặc biệt khi các thị trường top đầu xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ của Việt Nam như Hoa Kỳ ngày càng thắt chặt thực thi Luật Lacey nhằm cấm mua bán lâm sản bất hợp pháp; Nhật Bản áp dụng Luật Gỗ sạch; Hàn Quốc ban hành Luật Sử dụng gỗ bền vững..., Hiệp định VPA/FLEGT cũng sẽ giúp Việt Nam xây dựng một nền tảng gỗ sạch - minh bạch - hợp pháp đi vào các thị trường khác.

Hiện Việt Nam đã trở thành trung tâm chế biến gỗ của châu Á. Trước những yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu lớn, ngành gỗ Việt Nam cần xây dựng trở thành ngành gỗ hợp pháp, minh bạch. Đây là một yêu cầu mang tính chất “sống - còn” của một ngành kinh tế, ông Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends cũng khuyến cáo.

Ông Nguyễn Quốc Trị, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đánh giá, đây là một hiệp định rất nhân văn, góp phần cải cách hành chính. Khi thực hiện Hiệp định này, thủ tục hành chính về xuất xuất khẩu đối với các doanh nghiệp sẽ được rút gọn. Thay vì phải mang một bộ hồ sơ dày để chứng minh nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, doanh nghiệp chỉ cần một tờ giấy chứng nhận nguồn gốc gỗ hợp pháp có thể đưa hàng hóa vào được tất cả các nước của EU với giá tăng cao hơn.

Hiệp định cũng sẽ góp phần nâng cao uy tín và hình ảnh ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam trên toàn cầu, giúp mở rộng thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam sang các nước ngoài EU như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia…; góp phần thực hiện mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt từ 12-13 tỷ USD vào năm 2020, vươn lên đứng thứ 4 thế giới.

Để thực hiện Hiệp định, ông Nguyễn Quốc Trị cho biết, Việt Nam sẽ xây dựng hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp (VNTLAS) toàn diện và tin cậy nhằm đảm bảo gỗ nhập khẩu và sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp thông qua hệ thống xác minh đối với gỗ trong nước và gỗ nhập khẩu được khai thác và kinh doanh tuân thủ quy định pháp luật của nước khai thác.

Hiệp định VPA/FLEGT cũng quy định việc thiết lập hệ thống kiểm tra và cân bằng như cơ chế khiếu nại và đánh giá độc lập cũng như cam kết có sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình thực thi Hiệp định và công bố các thông tin chính của ngành lâm nghiệp.

Các cam kết của Hiệp định VPA/FLEGT đã được quy định trong Luật Lâm nghiệp Việt Nam mà sẽ có hiệu lực từ  01/1/2019. Để thực hiện hiệp định, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, Chính phủ sẽ có một nghị định để thể chế hóa các cam kết chính của Hiệp định; trong đó quan trọng nhất là kiểm soát gỗ nhập khẩu hợp pháp và xây dựng hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp của Việt Nam. Ngành lâm nghiệp cũng nghiên cứu để xây dựng các phần mềm, cơ sở dữ liệu như phần mềm phân loại doanh nghiệp, cấp phép FLEGT để phục vụ việc thực hiện hiệu quả Hiệp định.

Để các điều khoản được thực thi thông suốt quan trọng nhất vẫn là sự hiểu biết và cập nhật thông tin của từng chủ rừng và các doanh nghiệp để chủ động tuân thủ các cam kết trong Hiệp định. Do đó, người dân và doanh nghiệp phải tham gia trong chuỗi cung ứng hoàn chỉnh. Người trồng rừng cần có chứng chỉ thể hiện nguồn gỗ đó minh bạch, hợp pháp. Doanh nghiệp xác định, rà soát lại toàn bộ quy trình hiện có để có được nguồn gốc gỗ đầu vào hợp pháp; tự đánh giá năng lực của doanh nghiệp có phù hợp với các tiêu chí để được xếp vào danh mục loại một (doanh nghiệp minh bạch). (TTXVN/Tin Tức Online 2/11; Hải Quan Cuối Tuần 4/11, tr10)

https://baotintuc.vn/kinh-te/hiep-dinh-vpaflegt-se-giup-viet-nam-mo-rong-thi-truong-xuat-khau-20181102125642177.htm 

Đẩy nhanh hoàn thiện chính sách cho ngành gỗ

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2018 kinh tế toàn cầu có sự phục hồi tăng trưởng, trong đó khu vực tăng trưởng nhanh nhất là Đông Á, Thái Bình Dương. Riêng giá trị thương mại đồ nội thất toàn cầu dự kiến tăng 3,5%. Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đang chiếm khoảng 6% thị phần thương mại đồ gỗ thế giới sẽ có nhiều cơ hội để phát triển.

 Luật Lâm nghiệp 2017 đã quy định rõ chính sách phát triển lâm sản theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp hợp tác, liên doanh, liên kết với chủ rừng để tạo vùng nguyên liệu, quản lý rừng bền vững, tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ mới và các giải pháp tăng trưởng xanh, nâng cao giá trị gia tăng, ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ trong chế biến lâm sản. Luật cũng quy định về chính sách phát triển thị trường lâm sản.

Ngành chế biến gỗ và lâm sản đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 11 tỷ USD vào năm 2019, đến năm 2025 phấn đấu đạt 18 - 20 tỷ USD. Trước mắt, năm 2018 phấn đấu xuất khẩu 9 tỷ USD. Để thực hiện mục tiêu trên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã gợi ý cho ngành một số giải pháp. Đầu tiên, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp phải tập trung triển khai thực hiện hiệu quả Luật Lâm nghiệp năm 2017. Trong đó điểm mới quan trọng của Luật là coi lâm nghiệp là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm từ quản lý, bảo vệ, phát triển đến sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản. Các bộ, ngành, nhất là Bộ NN - PTNT cần rà soát, hoàn thiện các văn bản pháp luật có liên quan, cũng như cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư tốt hơn nữa cho ngành chế biến gỗ và lâm sản phát triển. Đồng thời, khuyến khích đầu tư vào trồng rừng nguyên liệu, đổi mới khoa học công nghệ trong trồng rừng, chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu.

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu hiện nay đó là hoàn thiện, trình Chính phủ, Bộ NN - PTNT ban hành 4 nghị định, 7 thông tư hướng dẫn thi hành Luật Lâm nghiệp 2017. Trong đó chú trọng đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi trong khai thác, chế biến và thương mại lâm sản. Đẩy mạnh đàm phán các hiệp định song phương về lâm nghiệp; thúc đẩy triển khai Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và EU. Tập trung ưu tiên xúc tiến thương mại đối với các thị trường tiềm năng như: Australia, Nga, Canada, Ấn độ, châu Phi và Nam Mỹ.

Cùng với đó, bảo đảm nguồn nguyên liệu hợp pháp, có chất lượng thông qua tuyên truyền hướng dẫn các chủ rừng thực hiện trồng rừng thâm canh, sử dụng các loại giống cây trồng có chất lượng tốt, có năng suất cao để trồng rừng gỗ lớn, không khai thác rừng non, quản lý rừng bền vững. Để đáp ứng nhu cầu phát triển, ngành lâm nghiệp đang chú trọng nghiên cứu xây dựng quy hoạch vùng nguyên liệu rừng trồng tập trung gắn với phát triển sản xuất và chế biến gỗ tại một số vùng trọng điểm như Đông Bắc bộ, Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ. Bên cạnh đó, ngành  lâm nghiệp cũng triển khai thực hiện quản lý rừng bền vững, phấn đấu đến năm 2020, cả nước có 300.000ha rừng có chứng chỉ quản lý bền vững, và đến năm 2025 sẽ đạt 1 triệu hecta.

Đối với nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Quốc Trị cho biết, đơn vị đã ký kết quy chế hợp tác, phát triển với Đại học Lâm nghiệp, trong đó có nội dung về nguồn nhân lực. Cụ thể, Tổng cục Lâm nghiệp sẽ phối hợp với Đại học Lâm nghiệp xác định nhu cầu, chất lượng nhân lực ngành, từ đó định hướng xây dựng kế hoạch, chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo. Tổng cục Lâm nghiệp cũng đề nghị Đại học Lâm nghiệp tập trung đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ nhân lực chất lượng cao cho ngành chế biến gỗ có khả năng thích ứng ngay với nền sản xuất chế biến gỗ công nghệ cao, tiên tiến thông qua việc xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo tiên tiến, liên kết với các trường đại học tại các nước có ngành công nghiệp chế biến gỗ phát triển như Đức, Italy, Canada… (Đại Biểu Nhân Dân 3/11, tr5; Đại Biểu Nhân Dân Online 3/11) Về đầu trang

http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=412730

Quảng Nam: Mạnh tay "trảm"

Vừa qua, tỉnh Quảng Nam thu hồi, chấm dứt việc nghiên cứu triển khai thực hiện dự án thủy điện Đăk Di 4 (xã Trà Mai, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam) đối với Công ty CP Thủy điện Đăk Di 4 do nhà đầu tư không đủ năng lực.

Theo ông Huỳnh Khánh Toàn, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Nam, hiện tỉnh này đang xây dựng bộ tiêu chí với các quy định khắt khe, chặt chẽ đối với nhà đầu tư muốn tiếp tục triển khai dự án. Thời gian tới, nếu có nhà đầu tư đáp ứng được bộ tiêu chí thì dự án thủy điện Đăk Di 4 sẽ triển khai trở lại, nếu không thì dừng hẳn.

Ông Toàn nhìn nhận thủy điện tuy đem lại nhiều cái lợi nhưng trên thực tế đã để lại rất nhiều hệ lụy. Sau sự cố vỡ đập xảy ra tại Lào hay trước đó là sự cố vỡ hầm dẫn dòng công trình thủy điện Sông Bung 2 (huyện Nam Giang) khiến nhiều người chết, Quảng Nam rất thận trọng đối với các dự án thủy điện. Vừa qua, thủy điện Sông Bung 2 đề nghị tích nước trở lại sau khi đã khắc phục sự cố và khẳng định bảo đảm an toàn nhưng tỉnh vẫn yêu cầu chủ đầu tư và các ngành chức năng rà soát thật kỹ lưỡng trước khi cho tích nước trở lại. Tương tự, tỉnh cũng đang yêu cầu kiểm tra, rà soát toàn diện những vấn đề liên quan trước khi cho phép thủy điện Sông Tranh 3 (huyện Tiên Phước) tích nước.

Ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, cho biết thêm quan điểm nhất quán của tỉnh là không phát triển thêm thủy điện và sẽ cương quyết loại bỏ khỏi quy hoạch các thủy điện không đáp ứng yêu cầu, ảnh hưởng lớn đến đất rừng. Trong năm 2017, tỉnh đã loại khỏi quy hoạch 2 dự án thủy điện AgRồng và Nước Xa do công suất nhỏ nhưng ảnh hưởng lớn đến nhiều diện tích rừng tự nhiên. Trước đó, tỉnh cũng loại khỏi quy hoạch thủy điện Hà Ra và Bồng Miêu.

Ông Huỳnh Tấn Đức, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, nói cảm thấy thủy điện trên địa bàn "nhiều quá" và đề nghị tiếp tục rà soát thủy điện nhỏ, cái nào chủ đầu tư không đủ điều kiện làm thì cho dừng hẳn, không nên kêu gọi nhà đầu tư khác thay thế và mạnh dạn đưa ra khỏi quy hoạch. Được biết, tỉnh Quảng Nam hiện có 46 dự án thủy điện đã được phê duyệt. Trong đó, 10 thủy điện bậc thang do Bộ Công Thương phê duyệt, 36 thủy điện nhỏ và vừa do tỉnh phê duyệt. Đến nay, 20 thủy điện đã đi vào hoạt động, trong đó có 8 thủy điện bậc thang.

Tỉnh Đắk Lắk cũng đã loại khỏi quy hoạch hơn 20 dự án thủy điện vừa và nhỏ vì các chủ đầu tư triển khai chậm tiến độ, nhiều dự án ảnh hưởng lớn tới môi trường, rừng và đất rừng; đồng thời loại bỏ 71 điểm có tiềm năng thủy điện khỏi quy hoạch của tỉnh đã được phê duyệt từ năm 2005. Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk cho biết hiện tỉnh này chỉ còn 1 nhà máy thủy điện đang xây dựng và không còn dự án nào phê duyệt mới. Tuy nhiên, vẫn còn 3 dự án, điểm quy hoạch thủy điện dính đất rừng chưa được loại bỏ. Đó là thủy điện Ea K’tuor, thủy điện Đrang Phốk và thủy điện Ea Ran.

Theo Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk, hiện các dự án thủy điện ảnh hưởng đến môi trường, tác động xấu đến đời sống, xã hội, hiệu quả thấp thì tỉnh kiên quyết bỏ. Đối với 3 dự án trên, tỉnh cũng đã đề xuất Bộ Công Thương loại khỏi quy hoạch. Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ có đợt rà soát và có lẽ sẽ loại các dự án này.

Còn tại Đắk Nông, ông Bùi Huy Thành, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh này, cho biết những năm qua, tỉnh cũng đã rà soát, loại bỏ khỏi quy hoạch nhiều dự án thủy điện. Hiện nay, toàn tỉnh chỉ còn 2 dự án đang xây dựng nữa là hết, không có dự án kêu gọi đầu tư mới.

Tại tỉnh Gia Lai, sau khi thu hồi dự án Thủy điện Ia Krêl 2 (huyện Đức Cơ) của Công ty CP Công nghiệp và Xây dựng Bảo Long (Công ty Bảo Long), ngân hàng cho công ty vay tiền đầu tư dự án đã xin tỉnh được tiếp tục đầu tư để thu hồi số vốn đã cho vay khoảng hơn 120 tỉ đồng nhưng tỉnh chưa có ý kiến gì. Dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ năm 2008 nhưng nhà thầu không đủ năng lực thực hiện như cam kết. Đặc biệt, có 2 lần xảy ra sự cố vỡ đập làm ảnh hưởng nặng nề tới đời sống người dân, gây thiệt hại ước gần 6 tỉ đồng.

Ông Đặng Văn Minh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, cho biết quan điểm của tỉnh này là nếu dự án thủy điện không bảo đảm yêu cầu kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực lớn đến môi trường sinh thái, không phù hợp tình hình thực tiễn sẽ bị loại bỏ. Thực tế tỉnh đã loại rất nhiều dự án thủy điện, như Sông Liên, Suối Kem, Sơn Trà 3, Trà Bói, Tam Rao… Thời gian đến, Quảng Ngãi sẽ tiếp tục giám sát đối với các dự án thủy điện đã và đang triển khai. Dự án nào xâm hại rừng phòng hộ, rừng tự nhiên sẽ bị xử lý mạnh tay. Dự án nào ảnh hưởng đến rừng sẽ loại bỏ khỏi quy hoạch ngay từ đầu, giảm thiểu tối đa tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ dự án thủy điện. (Người Lao Động Online 5/11) Về đầu trang

 https://nld.com.vn/thoi-su/manh-tay-tram-20181104222800707.htm

UN-REDD - bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế cho người dân Hà Tĩnh

Bằng việc hỗ trợ giao đất gắn với giao rừng, Chương trình UN - REDD Việt Nam giai đoạn 2 tỉnh Hà Tĩnh thời gian qua đã thực sự là “bà đỡ”, giúp thêm xanh những cánh rừng và thêm sinh kế cho người dân nhận khoán bảo vệ rừng.

Cán bộ Chương trình UN - REDD Việt Nam giai đoạn 2 tỉnh Hà Tĩnh cùng các hộ nhận khoán đi kiểm tra hiện trường rừng.

Ông Võ Xuân Sơn - Trưởng Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQL RPH) Nam Hà Tĩnh bày tỏ niềm vui trước kết quả tích cực từ việc hỗ trợ của chương trình đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn Kỳ Anh nói chung trong những năm gần đây.

Theo ông Sơn, hầu hết diện tích rừng tại một số địa phương trên địa bàn trước đây bị khai thác trái phép gây thiệt hại nặng nề, chỉ sau 2 - 3 năm được giao cho các hộ gia đình, cộng đồng quản lý với sự hỗ trợ khá toàn diện từ chương trình, đến nay đã phục hồi nhanh chóng và đang sinh trưởng, phát triển tốt.

Cụ thể, Chương trình UN - REDD và BQL RPH Nam Hà Tĩnh đã có văn bản thỏa thuận về việc thực hiện Kế hoạch hành động REDD+. Theo đó, 12 hộ thuộc các xã Kỳ Hoa (thị xã Kỳ Anh): Kỳ Lạc, Kỳ Thượng, Kỳ Sơn (huyện Kỳ Anh) được giao quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ 267,7 ha rừng.

Kết quả phúc tra nghiệm thu công tác quản lý, bảo vệ rừng của 17 lô/12 hộ nhận khoán tại BQL RPH Nam Hà Tĩnh đều đạt yêu cầu, rừng được quản lý, bảo vệ tốt, không hề bị khai thác, sẻ phát, lấn chiếm, cháy rừng…

Về công tác khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên gắn với chia sẻ lợi ích của 11 hộ nhận khoán, với diện tích gần 70 ha rừng tại BQL RPH Hồng Lĩnh và 215 ha tại BQL RPH Sông Tiêm (Hương Khê) cũng đạt kết quả ấn tượng không kém.

Ông Hồ Sỹ Hanh (xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân) - một trong những hộ nhận khoán, cho biết, các hộ nhận khoán trên địa bàn đã thực hiện đúng theo các nội dung hợp đồng đã ký; phấn khởi khi rừng được bảo vệ và phát triển tốt...

Chương trình triển khai thí điểm tại TX Hồng Lĩnh, huyện Nghi Xuân và huyện Can Lộc, xã Phú Gia (huyện Hương Khê) bước đầu đã đạt yêu cầu. “Rừng được tổ chức khoanh nuôi, quản lý, bảo vệ có hiệu quả, không bị chặt phá, sẻ phát, lấn chiếm, cháy rừng và trâu bò phá hại; cây tái sinh mục đích phát triển tốt, khu vực khoanh nuôi đủ tiêu chí thành rừng tự nhiên. Điều quan trọng nhất là, ý thức, tinh thần, trách nhiệm của các hộ nhận khoán và người dân vùng dự án trong công tác quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ rừng được nâng lên rõ rệt...” - ông Nguyễn Vũ Long - cán bộ chương trình cho biết.

Ông Phan Văn Luân - hộ nhận khoán thuộc thôn Phú Lâm, xã Phú Gia (Hương Khê), vui mừng nói: “Các hộ nhận khoán rừng thí điểm chia sẻ lợi ích đã chủ động tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng tại gốc. Rừng không chỉ được bảo vệ tốt theo hướng phát triển bền vững mà người dân còn có thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống... Mong rằng thời gian tới, chương trình tiếp tục hỗ trợ để hộ nhận khoán có thêm việc làm và nhiều diện tích rừng được khoanh nuôi, bảo vệ...".

Có thể thấy, nếu phát huy và nhân rộng mô hình quản lý và bảo vệ rừng theo hướng bền vững từ Chương trình UN - REDD thì không chỉ khôi phục, bảo vệ tốt được diện tích rừng tự nhiên hiện có, bảo tồn đa dạng sinh học mà còn nâng cao đời sống của người dân sống gần rừng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. (Baohatinh.vn 5/11) Về đầu trang

http://baohatinh.vn/nong-nghiep/un-redd-bao-ve-rung-cai-thien-sinh-ke-cho-nguoi-dan-ha-tinh/163497.htm

Xã hội hóa trong bảo vệ và phát triển rừng

Qua 10 năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã huy động ủy thác nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đến nay đạt hơn 10.000 tỷ đồng, bình quân trên 1.300 tỷ đồng/năm.

Là địa phương có diện tích đất lâm nghiệp không nhiều chỉ với trên 420.000 ha; trong đó diện tích có rừng trên 300.000 ha, nhưng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Ninh đã thực sự phát huy được vai trò quan trọng và là địa chỉ tin cậy trong việc huy động nguồn tài chính mới, ổn định, bền vững cho bảo vệ phát triển rừng. Đồng thời, góp phần gia tăng đóng góp của ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn này đã hỗ trợ thêm cho các chủ rừng, ban quản lý, công ty lâm nghiệp đầu tư trồng rừng, chăm sóc và thuê khoán bảo vệ rừng.

Theo ông Mạc Văn Xuyên, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Ninh, tỉnh có khoảng 136.000 ha rừng phòng hộ và 26.000 ha rừng đặc dụng. Hàng năm, nguồn kinh phí hỗ trợ từ nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 1/3 tổng kinh phí cho bảo vệ và phát triển rừng. Nhờ có nguồn tiền từ dịch vụ môi trường rừng, tỉnh có thêm nguồn kinh phí hỗ trợ cho các chủ rừng, thuê khoán bảo vệ, chăm sóc rừng. Đây là nguồn động lực quan trọng trong khi nguồn hỗ trợ của Nhà nước còn hạn hẹp để đơn vị thực hiện tốt nhất trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay, toàn quốc đã có 44 tỉnh, thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng là một mắt xích quan trọng, không thể thiếu trong việc thực hiện nhiệm vụ chi trả ủy thác tiền dịch vụ môi trường rừng từ bên sử dụng đến bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng.

Qua 10 năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã huy động ủy thác nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đến nay đạt hơn 10.000 tỷ đồng, bình quân trên 1.300 tỷ đồng/năm. Tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm đã góp phần quản lý bảo vệ hơn 5 triệu ha rừng, chiếm khoảng 42% tổng diện tích rừng toàn quốc.

Quỹ đã góp phần hỗ trợ cho chủ rừng có kinh phí quản lý bảo vệ rừng; hỗ trợ các Công ty Lâm nghiệp khi dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và hỗ trợ kịp thời cho hơn 410.000 hộ gia đình, cộng đồng với 86% là đồng bào dân tộc có điều kiện nâng cao đời sống, cải thiện sinh kế trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang khó khăn.

Tuy nhiên, có những địa phương như Lai Châu, Điện Biên, Sơn La... tiền dịch vụ môi trường rừng thu được hàng năm rất cao, hơn 100 tỷ đồng/năm nhờ hệ thống sông Đà, nhưng có những tỉnh như Phú Thọ, Hòa Bình hay Quảng Ninh lại rất thấp.

Với Quảng Ninh, do nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng không lớn nên việc chi trả hỗ trợ cho nhóm đối tượng chủ rừng được thụ hưởng là các hộ gia đình hầu như vẫn chưa thực hiện được. Bởi mức chi trả cho mỗi hộ rất thấp, thậm chí chỉ vài chục nghìn đồng cho 1 ha. Các đơn vị thường sử dụng nguồn kinh phí này để hỗ trợ phòng chống cháy rừng, trồng rừng, chăm sóc rừng, phòng trừ sâu bệnh hại…

Quảng Ninh là tỉnh có ngành công nghiệp mạnh và phát triển, đặc biệt là ngành công nghiệp khai khoáng và hoạt động sản xuất nhiệt điện, xi măng… Theo quy định, đây là ngành nằm trong đối tượng buộc phải chi trả dịch vụ môi trường rừng nên đây là đối tượng có thể thu được nguồn thu lớn.

Theo ông Mạc Văn Xuyên, dự kiến Quảng Ninh là một trong những địa phương sẽ thí điểm triển khai để xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ Carbon.

Ngoài nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ Carbon, Quảng Ninh còn có thể thu từ các đơn vị sử dụng nước công nghiệp, các bãi đẻ (bãi thủy sản đẻ tự nhiên), rừng ngập mặn… Nếu tính được đối tượng này, Quảng Ninh sẽ có nguồn thu thêm hàng chục tỷ đồng để hỗ trợ lại cho quản lý, bảo vệ rừng, giảm gánh nặng của Nhà nước trong hỗ trợ thuê khoán, bảo vệ rừng.

Thứ trưởng thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn đánh giá, việc hình thành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng từ trung ương đến địa phương là thành công lớn của quá trình tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, huy động hiệu quả, bền vững các nguồn lực xã hội cho quản lý, bảo vệ rừng. Quỹ đã góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước đầu tư cho ngành lâm nghiệp, giúp nâng cao trách nhiệm xã hội đối với tài nguyên rừng, đồng thời nâng cao năng lực sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng, tạo an sinh xã hội vùng sâu vùng xa.

Thứ trưởng Hà Công Tuấn yêu cầu các Quỹ cần hoạt động minh bạch, hiệu quả; quan tâm sát sao đến nhiệm vụ quản lý, sử dụng tiền trồng rừng thay thế; triển khai nghiên cứu, khai thác tối đa tiềm năng của dịch vụ môi trường rừng từ các cơ sở có phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính lớn trong nước đối với dịch vụ hấp thụ, lưu trữ Carbon và các nguồn lực quốc tế về chi trả dựa trên kết quả nhằm bảo vệ, phát triển rừng tốt nhất, nâng cao giá trị kinh tế từ rừng.

Các đơn vị lồng ghép thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và các chính sách khuyến khích phát triển lâm nghiệp khác. (TTXVN/Tin Tức Online 4/11) Về đầu trang

 https://bnews.vn/xa-hoi-hoa-trong-bao-ve-va-phat-trien-rung/100280.html

Triển khai phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô

Hiện nay, các tỉnh khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ bắt đầu vào mùa khô hạn. Ðể chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), giảm thiệt hại do cháy rừng gây ra, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa có Công văn số 8471/BNN-TCLN gửi UBND các tỉnh, thành phố về việc triển khai công tác PCCCR mùa khô 2018-2019. Theo đó, chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông, thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật trên địa bàn nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR. Tăng cường kiểm tra, rà soát phương án PCCCR ở các cấp và chủ rừng: Chuẩn bị lực lượng, phương tiện theo phương châm "bốn tại chỗ". Xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về PCCCR... (Nhân Dân Online 4/11) Về đầu trang

 http://nhandan.com.vn/xahoi/tin-tuc/item/38138302-trien-khai-phong-chay-chua-chay-rung-mua-kho.html

http://cpv.org.vn/xa-hoi/kien-quyet-khong-de-xay-ra-chay-rung-503557.html

Đà Nẵng: Xử lý nghiêm đối tượng chống người thi hành công vụ trong công tác quản lý rừng

Trước thực trạng lâm tặc ngày càng lộng hành, ngang nhiên chống đối lực lượng bảo vệ rừng ngày càng gia tăng, UBND TP.Đà Nẵng vừa có văn bản gửi các đơn vị có liên quan triển khai giải pháp ngăn chặn tình trạng chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng…

Theo đó, UBND thành phố giao nhiệm vụ cho Sở NN&PTNT thành phố chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tăng cường kiểm tra để kịp thời phát hiện các sai phạm, thiếu sót trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đồng thời bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn của người thi hành công vụ, định kỳ tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ, pháp luật, võ thuật cho công chức, viên chức Kiểm lâm và Bảo vệ rừng chuyên trách, người trực tiếp làm nhiệm vụ trong rừng và tại các tụ điểm chế biến, tàng trữ, buôn bán lâm sản trái phép.

Cùng với đó, kiểm tra, rà soát việc trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật, vũ khí, công cụ hỗ trợ cho lực lượng thi hành công vụ theo đúng quy định pháp luật, đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng, bảo đảm ngăn chặn kịp thời các hành vi chống đối cũng như bảo vệ sức khỏe, tính mạng cho lực lượng thi hành công vụ.

Bên cạnh đó, thành phố cũng đề nghị Tòa án thành phố, Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố chỉ đạo Tòa án, Viện Kiểm sát quận, huyện tổ chức điều tra, xử lý nghiêm hành vi phá rừng, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản theo quy định của pháp luật… Đặc biệt, xử lý nghiêm các đối tượng chống người thi hành công vụ trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, nên đề xuất đưa ra xét xử điểm, công khai lưu động theo quy định của pháp luật để răn đe, giáo dục chung, tăng cường hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng và tính nghiêm minh của pháp luật…

Công an thành phố, Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố, Bộ Chỉ huy Biên phòng thành phố tăng cường phối hợp với lực lượng Kiểm lâm và lực lượng Bảo vệ rừng chuyên trách kiểm tra, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, đấu tranh và xử lý kiên quyết các đối tượng chống người thi hành công vụ.

UBND các quận, huyện chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật tại địa phương tăng cường phối hợp với lực lượng Kiểm lâm và Bảo vệ rừng chuyên trách thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn, kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm các vụ việc có biểu hiện chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng xảy ra tại địa phương.

Đồng thời, tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan báo, đài tuyên truyền pháp luật vê lâm nghiệp và các quy định của pháp luật về công tác tuần tra kiểm soát của lực lượng Kiểm lâm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng để người dân hiểu và tự giác chấp hành… (Bảo Vệ Pháp Luật Online 3/11) Về đầu trang

 https://baovephapluat.vn/kiem-sat-24h/ban-tin-kiem-sat/xu-ly-nghiem-doi-tuong-chong-nguoi-thi-hanh-cong-vu-trong-cong-tac-quan-ly-rung-61159.html

Giải cứu động vật rừng bị đặt bẫy về tự nhiên

Tiến hành kiểm tra rừng tại khoảnh 57 và khoảnh 66, tiểu khu 140, Phân ban Khe Rỗ, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, đã phát hiện, tiêu hủy 5 chiếc bẫy động vật rừng cài, đặt trái phép tại địa điểm trên.

Ngày 01/11/2018, Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang phối hợp với Trạm Kiểm lâm địa bàn Đồng Dương - Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn Tây Yên Tử, tiến hành kiểm tra rừng tại khoảnh 57 và khoảnh 66, tiểu khu 140, Phân ban Khe Rỗ, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, đã phát hiện, tiêu hủy 5 chiếc bẫy động vật rừng cài, đặt trái phép tại địa điểm trên. Đặc biệt, có 2 cá thể loài Tắc kè (tên khoa học Gecko gecko) bị mắc bẫy vẫn còn sống, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, không bị thương; sau khi lập hồ sơ vụ việc, tổ công tác đã gỡ bẫy, tái thả ngay về môi trường tự nhiên phù hợp với sinh cảnh của loài.

Hiện, cơ quan Kiểm lâm cùng chính quyền địa phương đang tích cực điều tra, xác minh làm rõ đối tượng vi phạm để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Được biết, thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm đã tăng cường lực lượng, phối hợp với Kiểm lâm tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử,thường xuyên tuần tra, kiểm tra rừng tự nhiên với phương châm “bảo vệ rừng tại gốc”; đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn... (Nông Nghiệp Việt Nam Online 2/11) Về đầu trang

 https://nongnghiep.vn/giai-cuu-dong-vat-rung-bi-dat-bay-ve-tu-nhien-post229977.html

Kon Tum: Điều tra làm rõ vụ vận chuyển gỗ lậu trên sông Sê San

Lực lượng chức năng huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum đang điều tra làm rõ chủ phương tiện, tang vật của vụ vận chuyển gỗ lậu vừa phát hiện trên sông Sê San.

Trước đó, ngày 30/10, lãnh đạo huyện Ia H’Drai phát hiện trên sông Sê San, đoạn chảy qua thôn 8 xã Ia Tơi có ba phà đang chở ba xe ô tô chở theo nhiều gỗ. Lãnh đạo huyện đã yêu cầu lực lượng chức năng gồm Công an, Biên phòng, Kiểm lâm phối hợp kiểm tra các phương tiện trên.

Qua đó, lực lượng chức năng phát hiện 37 lóng gỗ các loại từ nhóm 2 đến nhóm 4, tất cả không có dấu búa kiểm lâm và giấy tờ hợp pháp. Đối tượng điều khiển phà là Nguyễn Thái Hòa trú ở huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Hiện tại, số phương tiện và tang vật trên đã được đưa về bến vườn điều do Công an tỉnh phối hợp với Kiểm lâm canh giữ. Theo quan sát của phóng viên, trên chiếc phà lớn nhất, còn mới chở ô tô tải biển kiểm soát 49C.123.57, chở 15 lóng gỗ tròn, với nhiều đường kính khác nhau từ 60cm đến hơn 80cm.

Xe ô tô 82C.008.83 chở toàn gỗ đã được xẻ hộp, đường kính lớn từ 50-80cm, dài 5-7 mét. Xe ô tô 78C.007.03 chở 5 lóng gỗ. Theo ông Nguyễn Văn Lộc, Bí thư huyện Ia H’Drai, đây là lần đầu tiên lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ được cả phà, phương tiện và gỗ lậu.

Ông Nguyễn Hữu Thạch, Chủ tịch UBND huyện Ia H’Drai cho biết: Sau khi cơ quan chức năng có kết quả đo đếm, huyện sẽ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nếu đủ điều kiện sẽ khởi tố để điều tra.

Huyện Ia H’Drai có đường biên giới với Campuchia rất dài, trong đó đường sông dài 60km, dân cư ít. Hoạt động của các đối tượng khai thác vận chuyển gỗ trái phép càng ngày càng phức tạp, liều lĩnh và manh động nên việc quản lý bảo vệ rừng, vây bắt rất khó khăn. (TTXVN/Tin Tức Online 2/11; Bảo Vệ Pháp Luật 6/11, tr10) Về đầu trang

https://bnews.vn/dieu-tra-lam-ro-vu-van-chuyen-go-lau-tren-song-se-san/100159.html