Điểm báo ngày 01/11/2018

Cập nhật ngày : 07/11/2018 09:14

ĐIỂM BÁO LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP

(Ngày 01 tháng 11 năm 2018)

 

Thực thi Hiệp định VPA/FLEGT mở rộng cơ hội cho gỗ Việt

Chiều ngày 31/10, Bộ NN-PTNT phối hợp với Báo Nông thôn Ngày nay tổ chức Tọa đàm Trực tuyến: “Thực thi Hiệp định VPA/FLEGT: Cơ hội và thách thức với XK gỗ Việt Nam”.

EU là thị trường tiêu thụ gỗ lớn thứ 4, chiếm hơn 10% thị phần XK gỗ của Việt Nam và hơn 400 DN đang XK sang thị trường này. Ông Phạm Văn Điển - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp - cho hay: EU được coi là một thị trường vô cùng quan trọng với gỗ Việt, vì vậy, việc ký VPA/FLEGT sẽ giúp các sản phẩm gỗ XK trực tiếp vào 28 nước châu Âu mà không cần phải qua một nước trung gian nào. Thị trường sẽ rộng mở hơn, dự đoán trong vài năm nữa, kim ngạch XK gỗ sang EU sẽ tăng gấp đôi, từ 700 triệu USD hiện nay lên hơn 1 tỷ USD.

Nhưng điều quan trọng hơn đó là Hiệp định VPA/FLEGT được dự đoán sẽ mang lại tác động tích cực cho Việt Nam trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế - xã hội và môi trường, trong đó nổi bật hơn cả là lợi ích về kinh tế, đặc biệt góp phần thúc đẩy thị trường XK mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tại các thị trường khác, nâng cao uy tín và hình ảnh ngành chế biến gỗ XK của Việt Nam trên toàn cầu, giúp mở rộng thị trường XK gỗ và sản phẩm gỗ của ta sang các các nước ngoài EU như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và các thị trường khác góp phần thực hiện mục tiêu nâng kim ngạch XK gỗ và sản phẩm gỗ đạt từ 12-13 tỷ USD vào năm 2020, vươn lên đứng thứ 4 thế giới.

Cũng theo ông Phạm Văn Điển, hiệp định này đã tạo ra cho Việt Nam vị thế lớn khi tham gia thị trường và chuỗi giá trị gỗ toàn cầu. Tham gia Hiệp định, ngành gỗ Việt sẽ làm theo cách chuyên nghiệp hơn, công khai, minh bạch và phù hợp với các công ước, tiêu chuẩn của quốc tế. Bên cạnh đó, khi tham gia Hiệp định này, chúng ta còn có cơ hội áp dụng công nghệ cao vào ngành chế biến, tạo ra các sản phẩm gỗ đẹp hơn, có giá trị cao hơn. Ví dụ gỗ thành phẩm bình thường chỉ có giá 1.400-1.800USD/m3 thì nếu áp dụng công nghệ cao giá sẽ lên tới 4.000 USD/m3 gỗ thành phẩm. Hiệp định VPA/FLEGT đem đến cho chúng ta thị trường vô cùng rộng lớn, không sợ ế hàng, không lo bị ép giá.

Đồng quan điểm về vấn đề này, bà Tô Kim Liên - Giám đốc Trung tâm giáo dục và phát triển (CED) - đánh giá, việc ký kết hiệp định này không chỉ giúp Việt Nam mở rộng thị trường EU, mà còn có thể XK vào nhiều thị trường khác. Nói cách khác hiệp định sẽ có tác động kép. Theo bà Liên, hiện nay, không chỉ riêng EU có quy chế về gỗ hợp pháp, mà Hoa Kỳ còn có đạo luật Lacey trước cả EU, tương tự, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã ban hành luật sử dụng gỗ sạch, hoặc gỗ bền vững.

“Trong các thị trường gỗ Việt Nam XK nhiều nhất hiện nay Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc thì 5 thị trường đã có quy định, chỉ còn Trung Quốc là chưa. Do đó, khi Việt Nam đàm phán Hiệp định, các bạn hàng Hoa Kỳ cũng rất trông chờ chúng ta sẽ thực hiện được gì?”, bà Liên nói.

Theo vị chuyên gia này, khi thực hiện hiệp định, hệ thống luật pháp liên quan đến ngành gỗ Việt sẽ được cải thiện nhiều, từ đó XK gỗ và sản phẩm gỗ Việt không những sẽ mở rộng thị trường EU mà còn mở rộng ra nhiều thị trường khác, có tiềm năng tăng trưởng từ 10-15%. “Một tin vui là ngay khi cả hiệp định chưa ký, các đơn hàng đã tăng lên rất nhiều vì khách hàng tin tưởng chúng ta đã có những cam kết thực hiện hiệp định, trong đó thị trường Hoa Kỳ là đối tác hết sức quan trọng”, bà Liên nói.

Cơ hội thị trường rộng mở, tuy nhiên, bà Nguyễn Tường Vân -  Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế (Tổng cục Lâm nghiệp) - cho hay, khi hiệp định này đi vào thực thi, nó sẽ ảnh hưởng đến tất cả các DN, kể cả những DN không tham gia thị trường XK, bởi hiệp định yêu cầu và đề cao rất rõ tính minh bạch của nguyên liệu gỗ - điều mà từ trước đến nay chỉ những DN tham gia XK mới cần quan tâm tới. Những lợi ích trên sẽ đi kèm với nhiều thách thức, đòi hỏi các DN phải sản xuất minh bạch hơn, tuân thủ đúng theo yêu cầu của Hiệp định, đây chính là điều mà chúng ta hướng tới để phát triển tốt hơn nữa công tác XK các sản phẩm lâm nghiệp.

Tại Hội nghị “Định hướng, giải phát phát triển nhanh, bền vững ngành công nghệ chế biến gỗ và lâm sản XK” được tổ chức mới đây, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đặt ra định hướng cho ngàng trong 10 năm tới ngành chế biến gỗ và lâm sản XK của Việt Nam phải trở thành ngành mũi nhọn trong sản xuất, XK. Thủ tướng cũng đặt ra mục tiêu cho ngành chế biến gỗ là lâm sản XK phấn đấu đạt 9 tỷ USD vào năm 2018, đạt 11 tỷ USD vào năm 2019, đạt từ 12-13 tỷ USD vào năm 2020 và đến năm 2025 phấn đấu đạt 18-20 tỷ USD. (Thegioitiepthi.vn 31/10; Nhân Dân Online 01/11; Nông Thôn Ngày Nay 01/11, tr9) Về đầu trang

http://danviet.vn/nha-nong/co-hoi-va-thach-thuc-voi-xuat-khau-go-cua-viet-nam-926298.html

http://m.danviet.vn/video-anh/clip-toan-canh-toa-dam-co-hoi-va-thach-thuc-voi-xuat-khau-go-viet-926427.html

http://thegioitiepthi.vn/p/thu-x4c-thi-hiep-dinh-vpa-flegt-mo-rong-co-hoi-cho-go-viet-16685.html

http://nhandan.com.vn/kinhte/thoi_su/item/38103502-co-hoi-cho-go-va-lam-san-xuat-khau-sang-eu.html

Xuất khẩu lâm sản năm 2018 ước đạt 9 tỉ USD

Xuất khẩu lâm sản trong năm nay sẽ đạt giá trị 9 tỉ USD với tỷ lệ xuất siêu trên 70% và chiếm 23% giá trị của toàn ngành nông nghiệp. Sản phẩm gỗ Việt Nam đang được xuất khẩu đến 120 quốc gia trên thế giới.

Đó là chia sẻ của ông Phạm Văn Điển, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN - PTNT) tại cuộc toạ đàm trực tuyến về chủ đề "Thực thi hiệp định VPA/FLEGT, cơ hội và thách thức với xuất khẩu gỗ Việt Nam"do Bộ NN - PTNT và Báo Nông thôn ngày nay phối hợp tổ chức, diễn ra tại Hà Nội chiều 31.10.

Theo ông Điển, nếu nhìn từ năm 2011 (năm đầu tiên Việt Nam thực thi chính sách bảo vệ rừng) đến năm 2020 (năm khởi đầu đàm phán VPA/FLEGT) thì ngành lâm nghiệp xác lập được vị thế, bước tiến đóng góp cho nền kinh tế.

Diện tích rừng đã có nhiều hơn, nếu năm 1995, độ che phủ của rừng rơi xuống đáy với 28,5% thì đến năm 2011 đã lên 39,7%, năm 2017 đạt 41,5% và dự kiến trong năm nay sẽ đạt 41.65%.

Giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp đã gia tăng hơn và hình thành chuỗi giá trị trong lâm nghiệp. Năng suất rừng trồng tăng nhiều hơn, có diện tích đạt tới 35 - 36 m3/ha/năm, riêng rừng keo cao sản cỡ 22 - 23 m3/ha/năm trong khi trước đây chỉ có chưa đến 10 m3/ha/năm. Việt Nam cũng có 6,6 triệu ha rừng của trên 1,1 chủ rừng đang được hưởng phí dịch vụ môi trường rừng.

Cũng theo ông Điển, xuất khẩu lâm sản 10 tháng năm 2018 nay đạt 7,6 tỉ USD và nhiều khả năng sẽ đạt 9 tỉ USD trong năm 2018. Trong đó, tỷ lệ xuất siêu là 70% và giá trị trong lâm nghiệp chiếm 23,7% toàn ngành. Việt Nam xếp thứ 15 trên thế giới và xếp thứ 2 ở châu Á về xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ Việt Nam đã có thị trường ở 120 quốc gia.

VPA/FLEGT là hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản giữa Việt Nam và EU đã được ký kết và ngày 19.10 vừa qua sau 6 năm đàm phán.

Theo đó, Việt Nam cam kết xây dựng hệ thống vận hành đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam (VNTLAS) phù hợp với đặc điểm chuỗi cung cứng Việt Nam và quy định của EU để xác minh, truy xuất nguồn gốc gỗ trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Đây sẽ là căn cứ để cơ quan chức năng của Việt Nam cấp giấy phép ELEGT cho các lô gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu vào EU.

Đổi lại, các lô hàng có giấy phép này sẽ không phải thực hiện trách nhiệm giải trình về nguồn gốc gỗ hợp pháp theo quy định EUTR 995 khi xuất khẩu vào EU.

Hiện tại, EU là thị trường tiêu thụ gỗ lớn thứ 4 của Việt Nam, chiếm hơn 10% thị phần xuất khẩu gỗ và có 400 doanh nghiệp đang xuất khẩu vào thị trường này. (Thanh Niên Online 31/10) Về đầu trang

 https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/xuat-khau-lam-san-nam-2018-uoc-dat-9-ti-usd-1018805.html

Nâng kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ đạt 12 - 13 tỷ USD vào năm 2020

Chiều 31.10, tại Hà Nội, đã diễn ra Tọa đàm trực tuyến “Thực thi Hiệp định VPA/FLEGT: Cơ hội và thách thức với xuất khẩu gỗ Việt Nam”.

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, trong những năm qua, ngành lâm nghiệp đã có những bước phát triển vượt bậc và đạt nhiều kết quả quan trọng. Giá trị lâm nghiệp tăng bình quân 6,75% trong giai đoạn 2013 - 2016 so với 5,03% năm trong giai đoạn 2010 - 2012. Năm 2017 đạt mức tăng trưởng 5,72%. Tài nguyên rừng được phục hồi nhanh. Độ che phủ rừng năm 2017 đạt 41,45%. Công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản có nhiều chuyển biến tích cực. Gỗ và lâm sản là ngành hàng xuất khẩu quan trọng thứ 6 của Việt Nam và liên tục tăng trưởng cao trong thập kỷ qua, với thành công năm 2017 giá trị xuất khẩu đã đạt trên 8 tỷ USD.

Bên cạnh đó, sau hơn 6 năm đàm phán, Việt Nam và Liên minh châu Âu đã chính thức ký kết Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) vào ngày 19.10.2018. Đây là hiệp định thương mại có tính chất ràng buộc pháp lý nhằm cải thiện quản trị rừng và thúc đẩy thương mại gỗ và sản phẩm gỗ hợp pháp xuất khẩu tại Việt Nam. Hiệp định sẽ góp phần tạo điều kiện chủ động cho doanh nghiệp, giảm mức rủi ro cho các lô hàng xuất khẩu vào thị trường EU. Uy tín của Việt Nam cũng nâng lên tạo thuận lợi cho các mặt hàng gỗ và lâm sản xuất khẩu cào các thị trường Hoa Kỳ, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc... và những thị trường có những quy định tương tự như của EU về nguồn gốc gỗ...

Theo các đại biểu, để đạt mục tiêu giá trị xuất khẩu ngành gỗ 12 - 13 tỷ USD vào năm 2020 cần thấy rõ những thách thức, cơ hội khi tham gia hội nhập với ngành lâm nghiệp thế giới. Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ cụ thể hóa hơn nữa chính sách giao đất, khoán rừng với chủ hộ. Đồng thời giúp các chủ rừng sớm có chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) để làm tốt hơn nữa việc quản lý, nâng cao việc khai thác và sản xuất từ rừng; khuyến khích các HTX liên kết xây dựng chứng chỉ. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để ngành lâm nghiệp có liên kết “4 nhà” từ khâu trồng rừng đến tiêu thụ, chế biến, trong đó đặc biệt quan tâm đến trồng rừng gỗ lớn… (Đại Biểu Nhân Dân 01/11, tr5; Đại Biểu Nhân Dân Online 01/11) Về đầu trang

 http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=412647

Nâng cao tính hợp pháp đối với gỗ xuất khẩu của Việt Nam

Hiệp định VPA/FLEGT sẽ tạo cho Việt Nam một vị thế, niềm tin lớn để hội nhập, tham gia sâu rộng hơn vào chuỗi giá trị gỗ toàn cầu. Với việc ký kết Hiệp định, Việt Nam đã được ghi nhận nỗ lực, đồng thời, hướng đến một cách làm công khai, minh bạch cho ngành gỗ.

Đó là nhận định của Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Phạm Văn Điển tại Tọa đàm trực tuyến “Thực thi Hiệp định VPA/FLEGT: Cơ hội và thách thức với xuất khẩu gỗ của Việt Nam”. Tọa đàm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) phối hợp cùng Báo Nông thôn ngày nay tổ chức chiều 31/10, tại Hà Nội.

Phát biểu tại Tọa đàm, ông Phạm Văn Điển – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT cho biết, thương mại gỗ, đồ gỗ trong nước và trên thế giới tăng trưởng mạnh. Hiện nay, đồ gỗ của Việt Nam được tiêu thụ tại 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với thị trường chính gồm: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU,…Trong 10 tháng năm 2018, xuất khẩu lâm sản tiếp tục tăng trưởng trên 16%, ước đạt 7,6 tỷ USD, xuất siêu lâm sản chính 5,72 tỷ USD, và là một trong những ngành có giá trị xuất khẩu đứng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp.

Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế về lâm nghiệp tiếp tục phát triển cả chiều rộng và chiều sâu theo chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa. Ngành lâm nghiệp đã hợp tác với các đầu mối và tổ chức lâm nghiệp quốc tế. Đặc biệt, sau 6 năm đàm phán, Việt Nam và Liên Minh châu Âu đã kết thúc đàm phán, chính thức ký kết Hiệp định Đối tác Tự nguyện về thực thi Lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) với EU vào ngày 19/10/2018.

Thông tin về Hiệp định VPA/FLEGT, bà Nguyễn Tường Vân – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế (Tổng cục Lâm nghiệp) cho biết, Hiệp định có 4 nội dung cam kết mới đòi hỏi Việt Nam cần quy định bổ sung để phù hợp với các quy định của quốc tế về truy xuất nguồn gốc gỗ. Trong đó, về quản lý, kiểm soát gỗ nhập khẩu, Việt Nam sẽ áp dụng các bộ lọc rủi ro là “Loài rủi ro” và “Vùng địa lý rủi ro” để kiểm soát và quản lý gỗ nhập khẩu vào Việt Nam.

Về phân loại mức độ rủi do doanh nghiệp tham gia trong chuỗi cung của Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam (VNTLAS), Việt Nam áp dụng phân loại mức độ rủi ro doanh nghiệp tham gia trong chuỗi cung để có chế tài quản lý phù hợp, doanh nghiệp được phân loại thành 2 nhóm: nhóm 1 là doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và nhóm 2 gồm doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật.

Với doanh nghiệp nhóm 1 được chủ động trong hoạt động kinh doanh, không phải trình cho cơ quan kiểm lâm sở tại xác nhận hồ sơ xuất khẩu. Doanh nghiệp nhóm 2, khi xuất khẩu sẽ phải trình Bảng kê lâm sản cho cơ quan kiểm lâm sở tại kiểm tra và xác nhận và kiểm tra thực tế 20% lô hàng trước khi xuất khẩu và cấp phép FLEGT.

Về cấp phép FLEGT, chỉ cấp cho những lô gỗ xuất khẩu sang các nước thành viên EU. Đây được coi là “Giấy thông hành đặc biệt” do chính các cơ quan Việt Nam cấp để các lô hàng gỗ của nước ta được tự do vào EU mà không phải làm thủ tục xác minh nguồn gốc gỗ hợp pháp.

Hiện nay, các doanh nghiệp vẫn phải thực hiện trách nhiệm giải trình, tuân thủ các quy định của Việt Nam và EU. Chỉ khi được cấp giấy phép FLEGT mới thay thế được quy định trên.

Đánh giá về tác động của Hiệp định VPA/FLEGT đối với xuất khẩu gỗ của Việt Nam, Phó Tổng cục trưởng Phạm Văn Điển cho rằng, Hiệp định sẽ tạo cho Việt Nam một vị thế, niềm tin lớn để hội nhập, tham gia sâu rộng hơn vào chuỗi giá trị gỗ toàn cầu. Với việc ký kết Hiệp định, Việt Nam đã được ghi nhận nỗ lực. Đồng thời, hướng đến một cách làm công khai, minh bạch cho ngành gỗ.

Bên cạnh đó, để làm tốt công tác về xuất khẩu lâm sản, Việt Nam cần tăng cường áp dụng công nghệ tốt. Hiện nay giá khoảng 1.400-1.800 USD/m3 gỗ thành phẩm, nhưng khi áp dụng công nghệ có thể tăng tới 4.000 USD/m3 gỗ thành phẩm.

Tại Tọa đàm, chia sẻ về cách làm của địa phương trong việc phát triển vùng nguyên liệu chế biến gắn với phát triển bền vững, ông Triệu Đăng Khoa – Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang cho hay, tỉnh đã hỗ trợ tích cực việc quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ quản lý FSC (chứng chỉ quản lý rừng bền vững). Đến nay, Tuyên Quang đã cấp chứng chỉ FSC cho 19.700ha rừng, giá trị kinh tế tăng thêm từ diện tích gỗ này là 20 triệu đồng/ha.

Bên cạnh đó, tỉnh đã có quy hoạch 6 vùng nguyên liệu cho các doanh nghiệp. Hàng năm, tỉnh dành 4-5 tỷ đồng hỗ trợ cây giống cho người dân, chủ yếu là cây keo lai để người dân tham gia trồng rừng nguyên liệu. Với việc tổ chức tốt khâu liên kết chuỗi từ trồng đến khai thác, tiêu thụ, tính đến thời điểm này Tuyên Quang là một trong những tỉnh bảo vệ hiệu quả rừng nguyên liệu phục vụ chế biến và rừng tự nhiên. (Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 31/10) Về đầu trang

 http://cpv.org.vn/kinh-te/nang-cao-tinh-hop-phap-doi-voi-go-xuat-khau-cua-viet-nam-503378.html

VPA/FLEGT: Bước tiến lịch sử của lâm nghiệp Việt Nam

Sau hơn 6 năm đàm phán, Việt Nam và Liên minh châu Âu đã chính thức ký kết Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) vào ngày 19/10/2018. Đây là Hiệp định thương mại có tính chất ràng buộc pháp lý nhằm cải thiện quản trị rừng và thúc đẩy thương mại gỗ và sản phẩm gỗ hợp pháp xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường EU.

Hiệp định VPA giữa Việt Nam và EU gồm 27 điều và 9 Phụ lục kỹ thuật. VPA/FLEGT sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam trên cả 3 lĩnh vực kinh tế - xã hội - môi trường, nổi bật là mở rộng thị trường xuất khẩu, cải thiện thể chế về quản lý rừng, giải quyết tình trạng khai thác và thương mại gỗ trái phép, góp phần phát triển bền vững ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam.

Hiệp định sẽ góp phần tạo điều kiện chủ động cho các doanh nghiệp, giảm mức rủi ro cho các lô hàng xuất khẩu vào thị trường EU. Bên cạnh đó, uy tín của Việt Nam cũng nâng lên tạo thuận lợi cho các mặt hàng gỗ và lâm sản của chúng ta  xuất khẩu vào các thị trường Hoa Kỳ, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc... và những thị trường có những quy định tương tự như của EU về nguồn gốc gỗ.

Ông Phạm Văn Điển, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) cho hay: “Hiệp định này đã tạo ra cho Việt Nam vị thế lớn khi tham gia thị trường và chuỗi giá trị gỗ toàn cầu. Bằng việc ký kết này có thể khẳng định nỗ lực của Việt Nam đã được ghi nhận, đồng thời thể hiện rõ thái độ nghiêm túc của chúng ta trong việc thực thi các quy ước quốc tế nói chung. Tham gia Hiệp định này, chúng ta đã có cách làm chuyên nghiệp hơn, công khai, minh bạch và phù hợp với các công ước, tiêu chuẩn của quốc tế. Đây chính là yếu tố cấu thành giá trị ngành gỗ trong tương lai”.

Bên cạnh đó, khi tham gia Hiệp định này, Việt Nam còn có cơ hội áp dụng công nghệ cao vào ngành chế biến, tạo ra các sản phẩm gỗ đẹp hơn, có giá trị cao hơn. Ví dụ gỗ thành phẩm bình thường chỉ có giá 1.400-1.800 USD/m3, nếu áp dụng công nghệ cao giá thành sẽ lên tới 4.000 USD/m3 gỗ thành phẩm. Cùng với đó, Hiệp định VPA/FLEGT đem đến cho chúng ta thị trường vô cùng rộng lớn, không sợ ế hàng, không lo bị ép giá.

Tại tọa đàm “Cơ hội và thách thức cho xuất khẩu gỗ Việt Nam” do Bộ NN&PTNT phối hợp với báo Nông thôn Ngày nay tổ chức ngày 31/10, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA), nhìn nhận yếu tố liên kết sẽ tạo nên sức mạnh cho doanh nghiệp (DN) sản xuất và chế biến gỗ. “Nếu DN xác định được nhu cầu liên kết, đối tác cụ thể thì hiệp hội sẽ kết nối các DN có nhu cầu tương ứng với nhau. Nếu DN có nhu cầu về thông tin, chúng tôi cũng sẵn sàng cập nhật thông tin cho các DN. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để ngành lâm nghiệp cũng có liên kết “4 nhà” từ khâu trồng rừng đến tiêu thụ chế biến, trong đó đặc biệt quan tâm đến trồng rừng gỗ lớn, bởi lâu nay chúng ta khai thác rừng non nhiều, XK gỗ dăm nhiều nên ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nguyên liệu”, ông Hạnh nhấn mạnh.

Chia sẻ kinh nghiệm cấp chứng chỉ FSC cho rừng trồng tại địa bàn tỉnh Quảng Trị, đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng cho biết: “Từ thực tiễn sản xuất của tỉnh Quảng Trị, tôi cho rằng muốn xây dựng chứng chỉ FSC thì chủ rừng phải thực sự nỗ lực, chính quyền địa phương chỉ hỗ trợ một phần, cộng đồng người dân ở địa bàn đó cũng phải đồng hành, cam kết, liên kết lẫn nhau trong các hoạt động quản lý, bảo vệ, vận chuyển, chế biến lâm sản. Thực tế cho thấy hoạt động sản xuất lâm nghiệp, bảo vệ rừng có liên quan đến rất nhiều người dân trong khu vực. Muốn làm được trước hết phải tuyên truyền để cộng đồng dân cư chỗ có rừng thấy được mình sẽ được lợi ích cả về kinh tế, xã hội, môi trường. Hằng năm, lợi nhuận của chủ rừng cũng cần phải chia sẻ với cộng đồng dân cư, để khi có sự cố xảy ra, người dân mới cùng tham gia, cùng bảo vệ. Đi đầu cho việc này, trưởng thôn, trưởng bản phải gương mẫu, ký cam kết tham gia bảo vệ rừng”.

Hiện nay, tại Quảng Trị, giá trị thu nhập từ diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC ngày càng tăng, ví dụ gỗ thường được 1 triệu thì gỗ FSC phải được 1,3 triệu. Cùng với đó, tỉnh Quảng Trị đã có 3 công ty lâm nghiệp và 2 hộ trồng rừng được cấp chứng chỉ FSC; đối với các hộ sản xuất nhỏ lẻ, tỉnh đang khuyến cáo tham gia HTX, nhóm hộ, tổ hợp tác để được cấp chứng chỉ FSC nhằm sản xuất rừng bền vững. Quảng Trị đã có hơn 25.000 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC, trong đó Công ty Lâm nghiệp Bến Hải có gần 10.000 ha, Công ty Lâm nghiệp Triệu Hải hơn 5.200 ha, Công ty Lâm nghiệp Đường 9 có hơn 5.000 ha và các hộ gia đình có 5.000 ha…

“Nếu tất cả các khu rừng của chúng ta được cấp chứng chỉ FSC thì công tác thực hiện Luật c sẽ đỡ đi rất nhiều. Và nếu cả các khu rừng tự nhiên cũng được cấp chứng chỉ thì sau này chúng ta sẽ có cơ hội tham gia thị trường carbon RED+”, ông Hà Sỹ Đồng nhấn mạnh.

Tại buổi tọa đàm, ông Triệu Đăng Khoa, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang chia sẻ: “Tính đến nay, Tuyên Quang chúng tôi đã cấp chứng chỉ FSC cho 19.700 ha. Trong năm 2019 chúng tôi sẽ phấn đấu cấp thêm chứng chỉ cho 4.500-5.000 ha. Để làm được điều này, chúng tôi tranh thủ chỉ đạo của Tổng cục Lâm nghiệp, tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư mời các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia. DN ứng trước kinh phí cấp chứng chỉ bao gồm tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật, sau đó sẽ được trả dần bằng các sản phẩm gỗ. Nhờ đó, ngay trong năm 2016 – năm đầu tiên cấp chứng chỉ FSC, chúng tôi đã cấp chứng chỉ cho 5 công ty lâm nghiệp, tương đương với 11.000 ha rừng. Tổng kết ngay năm đầu tiên, chúng tôi rút ra bài học: Khi tham gia chứng chỉ FSC, ý thức của người dân đã thay đổi, kiểm soát thuốc BVTV, gom gọn gàng chứ không vứt bừa bãi xuống mương”.

Theo ông Khoa cho biết, hiện nay, sản phẩm gỗ từ rừng có chứng chỉ FSC có giá trị cao hơn rừng không chứng chỉ từ 12-15%, đây chính là yếu tố quan trọng để gắn kết người dân tham gia trồng và bảo vệ rừng. Ngoài 5 công ty lâm nghiệp đã được cấp chứng chỉ, năm nay Tuyên Quang sẽ mở rộng cấp chứng chỉ FSC cho các nhóm hộ nếu có khung pháp lý cụ thể hơn từ Bộ NN&PTNT thông qua các thông tư, nghị định.

Ông Phạm Văn Điển, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết: “Chúng tôi cũng lập kế hoạch mở rộng thị trường. Chúng ta phải mở rộng thị trường để tránh bị áp thuế bán phá giá, nếu bán cho 1 nước truyền thống có mức tăng trưởng 3 năm liền ở hai con số thì sẽ bị điều tra về việc bán phá giá và áp thuế lên tới 25%, vì vậy phải mở rộng thị trường. Bộ NN&PTNT xác định tập trung ưu tiên xúc tiến thương mại đối với các thị trường tiềm năng như: Australia, Nga, Canada, Ấn Độ, châu Phi và Nam Mỹ. Tiếp đó là triển khai Kế hoạch phát triển thương mại gỗ, chú ý đến gỗ cao su và gỗ vườn nhà (có thể lên 3 triệu m3/năm) gắn với chế biến để phục vụ xuất khẩu trong nhiều năm tới”. (Báo Chính Phủ Điện Tử  31/10) Về đầu trang

http://baochinhphu.vn/kinh-te/vpaflegt-buoc-tien-lich-su-cua-lam-nghiep-viet-nam/350854.vgp

Cơ hội cho gỗ và lâm sản xuất khẩu sang EU

Chiều 31-10, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Báo Nông thôn ngày nay tổ chức tọa đàm trực tuyến “Thực thi Hiệp định VPA/FLEGT: Cơ hội và thách thức với xuất khẩu gỗ của Việt Nam”.

Sau hơn sáu năm đàm phán, Việt Nam và Liên minh châu Âu đã chính thức ký kết Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT). Đây là Hiệp định thương mại có tính chất ràng buộc pháp lý, nhằm cải thiện quản trị rừng và thúc đẩy thương mại gỗ và sản phẩm gỗ hợp pháp xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường EU. Bên cạnh đó, cũng đòi hỏi nỗ lực lớn của các doanh nghiệp trong việc sản xuất, kinh doanh gỗ và lâm sản có nguồn gốc hợp pháp, bảo đảm các điều kiện theo quy định của Hiệp định. (Nhân Dân 01/11, tr2; Nhân Dân Online 01/11) Về đầu trang

 http://nhandan.com.vn/kinhte/thoi_su/item/38103502-co-hoi-cho-go-va-lam-san-xuat-khau-sang-eu.html

Quảng Nam: Nâng cao chất lượng quản lý bảo vệ rừng

Từ ngày 29 - 31/10, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Quảng Nam đã tổ chức lớp tập huấn sử dụng máy tính bảng, phần mềm WebGIS cho các chủ rừng, cộng đồng và nhóm hộ trong phạm vi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. 

Mục tiêu của đợt tập huấn nhằm hướng dẫn các chủ rừng, cộng đồng và nhóm hộ đến từ 3 huyện: Nông Sơn, Duy Xuyên và Đại Lộc các nội dung về quy chế quản lý, sử dụng máy tính bảng, quản trị cơ sở dữ liệu trên nền WebGIS, để quản lý hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định số 262 của Sở NN&PTNT và các nội dung cơ bản về cách sử dụng máy tính bảng; hệ thống quản trị cơ sở trên nền WebGIS, ghi chép sổ quản lý tiền dịch vụ môi trường rừng của nhóm hộ, cộng đồng; ứng dụng phần mềm Androi để theo dõi, báo cáo diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp.

So với cách theo dõi và báo cáo diễn biến tài nguyên rừng truyền thống (sử dụng các biểu mẫu trên giấy in), thì phương pháp này đảm bảo hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng hoạt động hiệu quả hơn bằng cách cải thiện chất lượng số liệu (thông qua chức năng GPS), tăng cường độ tin cậy của số liệu (thông qua các bức ảnh chụp được gắn thẻ địa lý), giảm thiểu lỗi trong báo cáo số liệu (bằng việc sử dụng các mẫu biểu báo cáo dạng số), và nâng cao tính hiệu quả trong quản lý số liệu (bằng việc chuyển dữ liệu dạng số và sử dụng máy chủ đặt tại trung ương).

Hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng cải tiến là một trong những điều kiện quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tốt hơn, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của các cộng đồng địa phương thông qua các hoạt động cấp thôn, bản như tuần tra bảo vệ rừng.

Một hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng minh bạch và hiệu quả, cũng là một trong những điều kiện cần có để Việt Nam nhận được chi trả dựa vào kết quả thực hiện REDD+ trong khuôn khổ các thỏa thuận quốc tế về biến đổi khí hậu.

Theo kế hoạch từ nay đến cuối tháng 11 năm nay, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Quảng Nam sẽ tổ chức 12 lớp tập huấn về sử dụng máy tính bảng trong theo dõi diễn biến rừng cho các hộ, nhóm hộ có rừng ở các địa phương, đơn vị góp phần nâng cao chất lượng bảo vệ, quản lý rừng trên địa bàn của tỉnh Quảng Nam. (Tài Nguyên & Môi Trường Online 31/10) Về đầu trang

 https://baotainguyenmoitruong.vn/tai-nguyen/quang-nam-nang-cao-chat-luong-quan-ly-bao-ve-rung-1261003.html