Tìm kiếm bài viết

Ra mắt Văn phòng Chứng chỉ rừng Việt Nam

Chiều 26/4 tại Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức Hội thảo Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng Việt Nam, đồng thời công bố thành lập Văn phòng Chứng chỉ rừng tại Việt Nam.

Quản lý rừng bền vững tại Việt Nam đã được Chính phủ, Bộ NN-PTNT quan tâm chỉ đạo thực hiện từ nhiều năm qua, thể hiện tại Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn  2006 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007.

Chiến lược xác định mục tiêu đến năm 2020 phải thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,2 triệu ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp và có ít nhất 30% diện tích rừng sản xuất tương ứng với khoảng 2 triệu ha rừng phải được được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững.

Bên cạnh đó, với sự phát triển mạnh mẽ, ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu của Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ được mở rộng và có mặt ở hơn 120 quốc gia trên thế giới, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản liên tục tăng nhanh trong giai đoạn 2010 – 2015 với tốc độ tăng bình quân khoảng 28%/năm.

Năm 2018, giá trị xuất khẩu của ngành đã đạt 9,382 tỷ USD vượt so với mục tiêu 7,8 tỷ USD xuất khẩu của Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2020. Tuy đạt được những kết quả đáng khích lệ và ghi nhận, ngành chế biến và xuất khẩu lâm sản nước ta cũng đang đứng trước những thách thức lớn, nhiều thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam có những yêu cầu rất cao về kiểm soát nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu và các tiêu chuẩn quốc tế về Quản lý rừng bền vững, điều đó đòi hỏi các nhà sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam phải đảm bảo sử dụng nguồn nguyên liệu hợp pháp, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững thì mới xuất khẩu được sang các thị trường lớn.

Tính đến nay, diện tích chứng chỉ rừng Việt Nam mới chỉ đạt khoảng gần 237 nghìn ha, trong đó có trên 151 nghìn ha rừng trồng và gần 86 nghìn ha rừng tự nhiên tại 23 tỉnh trên cả nước.  Con số này còn khá khiêm tốn so với mục tiêu đề ra đồng thời chưa đáp ứng được nhu cầu gỗ có chứng chỉ cho xuất khẩu.

Chính vì vậy, thực hiện Quyết định số 1288/QĐ-TTg ngày 01/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng, trong đó cho phép thành lập Hệ thống Chứng chỉ rừng quốc gia, đồng thời giao Bộ NN-PTNT thành lập văn phòng chứng chỉ Quản lý rừng bền vững, là cơ quan đầu mối để vận hành hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia, nhằm thực hiện hiệu quả quản lý rừng bền vững cho toàn bộ diện tích rừng hiện có, từng bước đảm bảo và nâng cao giá trị về kinh tế, xã hội và môi trường của rừng phù hợp với yêu cầu và tiến trình phát triển của quốc tế trong việc đảm bảo nguồn nguyên liệu hợp pháp, có chứng chỉ cho sản xuất, chế biến xuất khẩu lâm sản.

         Phó Tổng cục trưởng Cao Chí Công đánh giá, Văn phòng Chứng chỉ quản lý rừng bền vững được thành lập sẽ là đầu mối hợp tác với các tổ chức chứng chỉ rừng quốc tế, các cơ quan, tổ chức liên quan để vận hành hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia; Chủ trì và triển khai các hoạt động chứng chỉ rừng tại Việt Nam; Xây dựng và phát triển thương hiệu Chứng chỉ rừng Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế; đồng thời tổ chức việc kiểm tra giám sát việc cấp chứng chỉ rừng của hệ thống quốc gia.

         “Trong thời gian tới, để vận hành được Hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia, Chúng tôi mong muốn có sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế, đặc biệt là các chủ rừng, các doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trong việc vận hành hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia, xây dựng và phát triển thương hiệu của hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia, tạo uy tín trên trường quốc tế”. Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Cao Chí Công phát biểu.

Tại Hội thảo, ông Benjammin Gunerberg, Tổng giám đốc Chương trình Chứng nhận Chứng chỉ rừng (PEFC) chia sẻ, PEFC là tổ chức quốc tế dành riêng cho chứng chỉ rừng quốc tế. Hiện PEFC đang hiện diện khắp toàn cầu với 44 hệ thống quốc gia được chứng thực, có 49 quốc gia thành viên, hơn 20.000 chứng nhận CoC tại 71 quốc gia với tổng trên tịch trên 309 triệu ha được chứng nhận PEFC, chiếm 60% thị phần của tất cả các khu rừng được chứng nhận trên thế giới. Hiện Việt Nam đã hợp tác với PEFC, và theo lộ trình, tháng 6/2019, Hội đồng PEFC sẽ họp và thông qua, công nhận Việt Nam là thành viên thứ 50 của PEFC.

Ông Benjammin Gunerberg cho biết “PEFC sẽ thúc đẩy quản lý rừng bền vững thông qua chứng nhận độc lập của bên thứ 3. Thiết lập tiêu chuẩn cho Quản lý rừng bền vững và Chuỗi hành trình sản phẩm. Các tiêu chuẩn của chúng tôi tập trung cụ thể vào việc cho phép các chủ hộ rừng nhỏ có được chứng nhận. Qua đó, nhân sinh thái của chúng tôi cho phép các doanh nghiệp và người tiêu dùng xác định các sản phẩm từ các khu rừng được quản lý bền vững.”

Đồng thời PEFC cũng cam kết hỗ trợ để thực hiện mục tiêu về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng của Việt Nam, hài hoà với PEFC.

Văn phòng Tổng cục     

 

Đọc tiếp...

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng


Đề án QLRBV_ 1288 QD-TTg.signed.pdf

Mục tiêu của Đề án nhằm quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái và các giá trị dịch vụ môi trường rừng; thúc đẩy cấp chứng chỉ rừng ở Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu của thị trường trong nước và thế giới về nguồn gốc gỗ hợp pháp.

Đồng thời tạo nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng trong các khu rừng thực hiện quản lý rừng bền vững, đáp ứng tối thiểu khoảng 80% cho nhu cầu sản xuất sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu; nâng cao giá trị gỗ rừng trồng, góp phần xóa đói giảm nghèo đối với người làm nghề rừng và nâng cao giá trị gia tăng cho ngành Lâm nghiệp.

Định hướng về thực hiện quản lý rừng bền vững, toàn bộ các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp hiện đang quản lý 7.216.889 ha rừng hoàn thành việc xây dựng và thực hiện phương án quản lý rừng bền vững.

Về cấp chứng chỉ rừng quản lý rừng bền vững: Công nhận nhiều loại chứng chỉ rừng hợp pháp của các tổ chức chứng chỉ rừng thế giới trong hoạt động đánh giá và cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam; hình thành được tổ chức trong nước đáp ứng yêu cầu về chuyên môn để cấp chứng chỉ rừng theo quy định của Việt Nam và của các tổ chức chứng chỉ rừng thế giới; duy trì toàn bộ diện tích rừng hiện đã được cấp chứng chỉ là 235.000 ha (88.000 ha rừng tự nhiên; 147.000 ha rừng trồng).

Giai đoạn từ năm 2018 - 2020, xây dựng và tổ chức cấp chứng chỉ rừng cho 300.000 ha rừng trồng sản xuất, phòng hộ của các tổ chức, hộ gia đình và ban quản lý rừng phòng hộ; giai đoạn từ năm 2020 - 2030, xây dựng và tổ chức cấp chứng chỉ rừng cho 1.000.000 ha rừng trồng sản xuất, phòng hộ của các tổ chức, hộ gia đình và ban quản lý rừng phòng hộ.

Để triển khai các mục tiêu và định hướng trên, Đề án đặt ra nhiệm vụ xây dựng văn bản pháp luật, tài liệu hướng dẫn thực hiện quản lý rừng bền vững, xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, tổ chức tập huấn hướng dẫn xây dựng phương án quản lý rừng bền vững cho các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng và một số chủ rừng là tổ chức kinh tế đang quản lý 7.041.128 ha rừng; tổ chức thẩm định phương án quản lý rừng bền vững cho các chủ rừng: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định đối với chủ rừng thuộc tỉnh, Tổng cục Lâm nghiệp thẩm định đối với chủ rừng thuộc các bộ, ngành trung ương.

Xây dựng mô hình quản lý rừng bền vững hướng tới cấp chứng chỉ rừng tại một số địa phương với mục đích mô hình sẽ là nơi thăm quan, học tập phục vụ công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho các đối tượng là cán bộ chuyên môn, chủ rừng; đồng thời là hiện trường để thực hiện đánh giá thử nghiệm các tiêu chí quản lý rừng bền vững của Việt Nam trước khi được ban hành.

Hỗ trợ chủ rừng xây dựng phương án quản lý rừng bền vững trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; quản lý, sử dụng rừng đạt tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững; thủ tục đăng ký cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững và thực hiện liên kết sản xuất theo chuỗi.

Xây dựng các mô hình quản lý rừng bền vững đối với: Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân hoặc nhóm hộ gia đình, cá nhân liên kết với quy mô khoảng 2.000 ha; chủ rừng có rừng trồng là công ty lâm nghiệp với quy mô khoảng 3.000 ha; vườn cây cao su, chủ rừng là doanh nghiệp với quy mô khoảng 2.000 ha; chủ rừng thực hiện quản lý rừng bền vững liên kết tổ chức sản xuất theo chuỗi với doanh nghiệp chế biến gỗ, với quy mô khoảng 3.000 ha.

Đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực, tuyên truyền quản lý bảo vệ rừng và Chứng chỉ rừng: tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo với sự hướng dẫn của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam về những lĩnh vực: Chuyên gia về quản lý rừng bền vững và cấp Chứng chỉ rừng; chuyên gia phát triển các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia và quốc tế về quản lý rừng bền vững; chuyên gia cho các tổ chức đánh giá cấp chứng chỉ rừng (CB)...

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xây dựng văn bản hướng dẫn các địa phương thực hiện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan, UBND các tỉnh, thành phố tổ chức triển khai thực hiện Đề án.

Nguồn: http://baochinhphu.vn

Đọc tiếp...

Thêm 3.000ha rừng trồng đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững

Đó là thông tin tại hội thảo kết thúc dự án Quản lý rừng bền vững và thương mại lâm sản có trách nhiệm (RAFT3) do Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) vừa tổ chức tại Phú Yên.

RAFT3 được Bộ NN-PTNT phê duyệt và triển khai từ tháng 12/2016 - 3/2018, gia hạn đến 8/2018, do Chính phủ Úc thông qua 3 nhà tài trợ gồm Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF Việt Nam), Trung tâm vì con người và rừng (RECOFTC) và Mạng lưới giám sát bảo vệ động vật hoang dã toàn cầu (TRAFFIC), với tổng kinh phí hơn 188.000 AUD. Chủ dự án là Tổng cục Lâm nghiệp. Dự án được phối hợp thực hiện gồm Cục Hải quan, Hiệp hội gỗ và lâm sản VN, các DN xuất khẩu, chế biễn gỗ.

Dự án đã hỗ trợ thành công cam kết hướng tới sự phát triển bền vững cho 3 Cty trồng rừng tại các tỉnh Phú Yên, Cà Mau và Bình Định. Đến nay, Công ty TNHH MTV Bảo Châu Phú Yên và Công ty Thúy Sơn đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vừng (FSC) với diện tích gần 3.000 ha. Còn Công ty Lâm nghiệp Sông Côn (Bình Đình) với gần 2.000ha cũng đang trong quá trình đánh giá.

Tại Phú Yên, Công ty TNHH MTV Bảo Châu Phú Yên là đơn vị đầu tiên nhận được chứng chỉ rừng quốc tế này, với hơn 1.900ha keo.

Ông Trần Đăng Khoa, Giám đốc Công ty TNHH MTV Bảo Châu Phú Yên cho biết, Công ty được thành lập từ 2003, bắt đầu trồng rừng từ năm 2010. Ngoài hoạt động lâm nghiệp, Công ty còn khai thác, sản xuất và chế biến gỗ trồng phục vụ cho các thị trường trong nước và xuất khẩu. Do đó, việc quản lý rừng bền vững là định hướng mà Công ty luôn hướng đến trong những năm qua. Năm 2017, khi dự án RAFT3 khởi động và rất mừng khi Công ty được Sở NN-PTNT Phú Yên giới thiệu, để hưởng lợi từ hỗ trợ dự án. RAFT3 đã giúp Cty có hướng đi đúng trong trồng, chế biến và xuất khẩu gỗ.

“Việc Công ty đạt chứng chỉ rừng FSC bên cạnh sự nỗ lực toàn thể cán bộ công nhân viên thì còn hỗ trợ đắc lực từ RAFT3. Với chứng chỉ này từ nay Công ty sẽ được quản lý rừng tốt hơn, đạt tiêu chuẩn cao về môi trường và xã hội, đóng góp vào thịnh vượng và trách nhiệm xã hội của tỉnh; thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đồng thời giúp Công ty hướng đến tham gia xuất khẩu lâm sản sang các thị trường khó tính như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc... Cùng với đó, Công ty sẽ phấn đấu phát triển diện tích rừng trồng lên khoảng 5.000ha...”, ông Khoa chia sẻ.

Ông Benjamin Rawson, đại diện WWF đánh giá, mặc dù dự án RAFT3 hỗ trợ nguồn hạn hẹp nhưng đã đạt một số thành công đáng kể khi 2 DN trồng rừng được nhận chứng chỉ FSC... Bên cạnh đó, dự án cũng đã đào tạo tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ hải quan, kiểm lâm và các DN chế biến gỗ...

Ông Benjamin Rawson cho rằng, WWF Việt Nam cam kết sẽ hỗ trợ lâu dài cho hoạt động quản lý rừng bền vững trên phạm vi toàn quốc, từ các nhà quản lý rừng tự nhiên đến các DN trồng rừng, thậm chí các hộ trồng rừng.

"Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thúc đẩy hoạt động thương mại hợp pháp và có trách nhiệm thông qua sáng kiến mạng lưới lâm nghiệp và thương mại toàn cầu của WWF (GFTN). Theo đó, hiện có 10 thành viên tham gia GFTN trên toàn quốc. Các thành viên cam kết chỉ mua gỗ được chứng nhận cho chuỗi cung ứng của mình và thực hiện quản lý rừng bền vững...", ông Benjamin Rawson nói.

Chia sẻ về dự án, ông Lê Văn Bách, Vụ trưởng Vụ Phát triển sản xuất lâm nghiệp cho biết, các kết quả của dự án RAFT3 đã thực sự thể hiện được một cách toàn diện và đồng bộ theo đúng tên dự án Quản lý rừng bền vững và thương mại lâm sản có trách nhiệm. Và, ông tin rằng, các dự án sau áp dụng mô hình này thì sẽ rất hiệu quả và đảm bảo thành công.

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

Đọc tiếp...

Tổng cục Lâm nghiệp lấy ý kiến đối với Dự thảo Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững và Bộ tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm (CoC)


CoC.zip

Mọi ý kiến đóng góp được gửi về Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trước ngày 15/8/2018;

Địa chỉ: 46 Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội;

Email: nqtrung-icd@vafs.gov.vn

Đọc tiếp...

Hội thảo tham vấn Thông tư Quy định về quản lý rừng bền vững

Ngày 22/6/2018, tại Đà Nẵng, Tổng cục Lâm nghiệp đã phối hợp với RECOFTC tổ chức Hội thảo tham vấn Thông tư Quy định về quản lý rừng bền vững. Ông Lê Văn Bách, Vụ trưởng vụ Phát triển sản xuất Lâm nghiệp thừa uỷ quyền lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo có các đại biểu đại diện một số đơn vị thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi; đại diện một số doanh nghiệp trồng rừng, nhóm hộ, cá nhân và tổ chức phi chính phủ có liên quan. 

Theo báo cáo tại Hội thảo, qua thời gian gần 4 năm thực hiện Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT hướng dẫn về phương án quản lý rừng bền vững thì đã có 22 tỉnh thực hiện, xây dựng được 59 phương án quản lý rừng bền vững. Tổng diện tích rừng thực hiện theo phương án là 624.996 ha, trong đó rừng tự nhiên là rừng sản xuất: 404.937 ha, rừng trồng sản xuất 183.226 ha, rừng phòng hộ 36.832 ha. Tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo FSC tính đến tháng 4/2018 là 234.869 ha, trong đó có 87.966 ha rừng tự nhiên và 146.903 ha rừng trồng. Những kết quả trên vàcác yêu cầu của thực tế là cơ sở quan trọng để xây dựng các nội dung về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng thể hiện tại điều 27, 28 trong Luật Lâm nghiệp và Dự thảo Thông tư Quy định về Quản lý rừng bền vững.

Dự thảo Thông tư đưa ra lấy ý kiến gồm 5 chương, 28 Điều quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm định phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững; tiêu chí quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng. Thông tư áp dụng đối với các tổ chức, chủ rừng liên quan đến xây dựng, thẩm định, phê duyệt và thực hiện phương án quản lý rừng bền vững; tiêu chí quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng. Theo ông Lê Văn Bách, bộ tiêu chí quản lý rừng bền vững và chứng chỉ quản lý rừng bền vững lần này gồm các tiêu chí, nguyên tắc hài hoà tối đa với các tiêu chuẩn quốc tế và thực tế của Việt Nam vừa đáp ứng được yêu cầu từ các “sân chơi” quốc tế và phù hợp với các “sân chơi” trong nước.

Phần lớn thời gian tại Hội thảo, các đại biểu đã tập trung chia tổ thảo luận để đóng góp ý kiến cho từng điều, khoản của Thông tư. Các ý kiến đóng góp tại Hội thảo này sẽ là cơ sở quan trọng để Ban Soạn thảo, Tổ Biên tập tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư, dự kiến trình ban hành trong đầu tháng 10/2018.

Dự thảo Thông tư vẫn tiếp tục được lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân liên quan tại địa chỉ: http://tongcuclamnghiep.gov.vn/LamNghiep/Index/tong-cuc-lam-nghiep-lay-y-kien-gop-y-du-thao-thong-tu-quy-dinh-ve-quan-ly-rung-ben-vung--3738

Văn phòng Tổng cục

Đọc tiếp...

Phát triển chính sách quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam


Thông điệp chính

Chính phủ Việt Nam và Bộ NN&PTNT đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm hỗ trợ và tăng cường hoạt động bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng bền vững có hiệu quả, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các chủ rừng. Ngày 03 tháng 11 năm 2014 Bộ NN&PTNT ban hành Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT về “Hướng dẫn phương án quản lý rừng bền vững”. Cùng với các chính sách khác, Thông tư 38 đã mang lại các tác dụng tích cực và hiệu quả rõ rệt trong hoạt động quản lý rừng bền vững tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi thực thi trên thực tế cũng đã bộc lộ những hạn chế. Vì vậy, rất cần sửa đổi, bổ sung Thông tư này nhằm tuân theo các quy định của Luật Lâm nghiệp 2017, phù hợp với thực trạng quản lý rừng của Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu của Quốc tế.

Nội dung cần sửa đổi, bổ sung Thông tư 38 sẽ tập trung vào các khía cạnh về Quản lý và Kỹ thuật bao gồm: 1) Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; 2) Các hướng dẫn lập, thẩm định, phê duyệt, phương án quản lý rừng bền vững; 3) Nội dung của phương án quản lý rừng bền vững; 4) Giám sát và đánh giá và 5) Xác lập hệ thống chứng chỉ rừng Việt Nam.

Giới thiệu

Mục tiêu chính của quản lý rừng bền vững là quản lý những khu rừng bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội. Phong trào quản lý rừng bền vững được phát động trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt phát triển mạnh mẽ từ sau Hội nghị Rio de Raneiro (1992) về Môi trường và Phát triển. Đến tháng 12 năm 2017, đã có 500 triệu ha rừng trên toàn thế giới được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FM và FM/CoC theo tiêu chuẩn FSC và PEFC.

Quản lý rừng bền vững tạo ra những khu rừng bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội

Việt Nam tham gia tiến trình quản lý rừng bền vững từ năm 1998, nhưng trước thời điểm tháng 11/2014, ngành lâm nghiệp vẫn chưa áp dụng một chính sách mang tính pháp quy về các nguyên tắc, tiêu chí, trình tự thực hiện quản lý rừng bền vững. Các hoạt động có liên quan đến quản lý rừng bền vững mới chỉ dừng ở mức độ thí điểm và tự phát, trông chờ vào viện trợ. Ngành lâm nghiệp Việt Nam rất cần chính sách xác định các nguyên tắc và trình tự thực hiện quản lý rừng bền vững, nhằm tháo gỡ các khó khăn trong tiến trình đạt được mục tiêu của Chiến lược phát triển lâm nghiệp là "Quản lý bền vững và có hiệu quả với 8,4 triệu ha rừng sản xuất... Phấn đấu ít nhất có được 30% diện tích rừng sản xuất có chứng chỉ rừng vào năm 2020. Đến tháng 12 năm 2017, Việt Nam đã có 31 chủ rừng với hơn 231.000 ha rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững, còn cách rất xa diện tích được xác định trong Chiến lược. Ngày 03 tháng 11 năm 2014, Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT về “Hướng dẫn phương án quản lý rừng bền vững”. Thông tư 38 có thể xem là văn bản pháp quy quan trọng đã đưa ra các hướng dẫn, các quy định tối thiểu cho một bản Phương án quản lý rừng bền vững cho rừng tự nhiên và rừng trồng, đồng thời cũng định hướng cho việc xác lập hệ thống chứng chỉ rừng ở Việt Nam. Thông tư 38 được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện sẽ là một chính sách mới và là nền tảng cho quá trình phát triển hệ thống chính sách quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng của Việt Nam. Hộp 1 trình bày tóm tắt nội dung chính của thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT.



Hộp 1. Nội dung của Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT

Thông tư 38 gồm 5 chương, 19 điều, 65 khoản quy định các nội dung sau:

1.         Hướng dẫn cho các chủ rừng về phương pháp, thủ tục lập, trình tự thẩm định, phê duyệt Phương án quản lý rừng bền vững;

2. Hướng dẫn nội dung và thực hiện Phương án quản lý rừng bền vững theo các nguyên tắc:

-               Chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật, thỏa thuận Quốc tế mà Việt Nam tham gia và những quy định của Phương án quản lý rừng bền vững;

-               Bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài, liên tục và đạt hiệu quả kinh tế cao;

-               Tôn trọng quyền sử dụng rừng, sử dụng đất sản xuất hợp pháp hoặc theo phong tục của người dân và cộng đồng địa phương;

-               Tôn trọng quyền của người lao động;

-               Duy trì, phát triển giá trị đa dạng sinh học, khả năng phòng hộ của rừng; bảo vệ môi trường sinh thái;

3. Quy định cho các hoạt động kiểm tra, giám sát;

4. Xây dựng hệ thống chứng chỉ rừng Việt Nam;

5. Thông tư có 7 phụ lục, trong đó quan trọng nhất là phụ lục 1 – Bộ nguyên tắc quản lý rừng bền vững Việt Nam với 151 chỉ số, 51 tiêu chí và 10 nguyên tắc.

Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT được ban hành cùng với việc thực thi bởi các chủ rừng bao gồm cả các Công ty lâm nghiệp và các Ban quản lý rừng Nhà nước trên thực tế đã mang lại những tác động tích cực rõ rệt: Nâng cao nhận thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường của chủ rừng và cộng đồng; quản lý tài nguyên rừng theo kế hoạch đảm bảo hiệu quả về kinh tế; góp phần cải thiện an sinh xã hội tại địa phương... Trước khi Thông tư 38 được ban hành, chỉ có 8 chủ rừng ở Việt Nam được cấp chứng chỉ FM, sau khi có Thông tư 38 đã có thêm 23 chủ rừng được cấp chứng chỉ FM. Điều đó chứng tỏ chính sách đã ban hành đi đúng hướng, đã thúc đẩy tiến trình quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng của Việt Nam phát triển mạnh mẽ.

NHỮNG ĐIỂM MẠNH CỦA THÔNG TƯ 38/2014/TT-BNNPTNT KHI ÁP DỤNG TRÊN THỰC TẾ

1.      Bước đầu đã tiếp cận và đáp ứng được các yêu cầu tối thiểu của Quốc tế về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng.

2.      Đề ra được kế hoạch chi tiết và các giải pháp cụ thể hướng dẫn thực hiện QLRBV&CCR.

3.      Có hiệu quả khi triển khai trên thực tế: Giúp các chủ rừng xác lập được kế hoạch hoạt động quản lý tối thiểu cho một chu kỳ kinh doanh bền vững cả 3 mặt Kinh tế - Xã hội và Môi trường. Qua khảo sát hiện trường cho thấy: Trung bình giá bán gỗ có chứng chỉ cao hơn gỗ không có chứng chỉ từ 20 – 25%; độ che phủ của rừng tại các điểm khảo sát tối thiểu được duy trì như khi bắt đầu thực hiện quản lý rừng bền vững; các chủ rừng đã thực hiện tốt các quy định bảo vệ môi trường: Không sử dụng hóa chất bị cấm, xử lý rác thải an toàn, bảo vệ nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất; góp phần cải thiện an sinh xã hội tại địa phương.

4.      Tham vấn và nghiên cứu các báo cáo tại cơ sở cho thấy cộng đồng và chính quyền địa phương rất đồng thuận với chủ trương quản lý rừng bền vững. Nhận thức và hoạt động về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường của các chủ rừng, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong các khu vực lâm nghiệp được nâng lên rõ rệt; giảm các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.

5.      Giúp cho các chủ rừng cải thiện đáng kể hệ thống và phương pháp quản lý, nâng cao được trình độ chuyên môn, kỹ thuật như: Sắp xếp lại bộ máy quản lý phù hợp; hệ thống tài liệu hóa các hồ sơ quản lý theo yêu cầu của các nguyên tắc quản lý rừng bền vững; cải thiện hệ thống kỹ thuật lâm sinh…

6.      Góp phần nâng cao thương hiệu của sản phẩm lâm nghiệp: Các chủ rừng đã có chứng chỉ FM/CoC đã được các cơ sở chế biến hàng gỗ xuất khẩu tiếp cận và thu mua gỗ nguyên liệu được khai thác từ các khu rừng này.

Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT mặc dù đã mang lại những hiệu quả tích cực trong việc thúc đẩy các hoạt động quản lý rừng bền vững ở nước ta trong thời gian qua. Tuy nhiên, qua một thời gian thực hiện cũng bộc lộ một số điểm hạn chế.

Thông tư 38 đã mang lại một số hiệu quả tích cực trong QLRBV ở Việt Nam

CÁC HẠN CHẾ CỦA THÔNG TƯ 38/2014/TT-BNNPTNT

1.    Phạm vi điều chỉnh còn thiếu đối tượng rừng đặc dụng.

2.    Đối tượng áp dụng còn thiếu các đối tượng/loại hình chủ rừng khác ngoài các công ty lâm nghiệp Nhà nước như: Doanh nghiệp tư nhân, nhóm hộ, cộng đồng dân cư.

3.    Trong quy định về nội dung của phương án QLRBV còn thiếu một số hoạt động quản lý quan trọng như: Sản xuất cây con; quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng; bảo tồn, đa dạng sinh học đối với các loại rừng; sử dụng rừng và thương mại lâm sản đối với rừng sản xuất.

4.    Thiếu hướng dẫn phương pháp tính toán về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của Phương án quản lý rừng bền vững.

5.    Khi xác định khu rừng có giá trị bảo tồn cao (HCVF), không quy định thực hiện theo hướng dẫn nào; của Cục Kiểm lâm, WWF Việt Nam hay WWF Đông Dương.

6.    Không quy định rõ cấp thẩm quyền có trách nhiệm thẩm định và phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững cho từng loại hình chủ rừng, đặc biệt đối với các chủ rừng quy mô nhỏ (SLIMF).

7.    Không nêu rõ nội dung giám sát các hoạt động quản lý cũng như tần suất và chỉ số phải kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện quản lý rừng bền vững.

8.    Chưa nêu rõ các trách nhiệm và nội dung cụ thể của các cơ quan quản lý Nhà nước trong hỗ trợ chính sách, giám sát và kiểm tra đánh giá.

9.    Thiếu các tiêu chí đánh giá năng lực và kinh nghiệm của các tổ chức tư vấn và cấp chứng chỉ.

Trên cơ sở các phân tích trên, rất cần xây dựng một chính sách mới đầy đủ hơn và phù hợp hơn với thực trạng của các hoạt động quản lý trong ngành lâm nghiệp Việt Nam dựa trên sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT.

CÁC KHUYẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG THÔNG TƯ 38/2014/TT-BNNPTNT

1.    Phạm vi điều chỉnh: Cần bổ sung thêm loại rừng đặc dụng và đối tượng áp dụng là các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoặc hộ gia đình, cá nhân liên kết.

2.    Bổ sung các thuật ngữ liên quan đến quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng.

3.    Bổ sung nội dung của phương án quản lý rừng bền vững: Sản xuất cây con; quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng; bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học đối với 2 loại rừng đặc dụng và phòng hộ; sử dụng rừng và thương mại lâm sản đối với rừng sản xuất; kế hoạch quản lý vùng đệm hành lang ven sông suối.

4.    Hướng dẫn các chỉ tiêu và phương pháp tính toán về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của Phương án quản lý rừng bền vững.

5.    Quy định rõ đơn vị có trách nhiệm lập Phương án quản lý rừng bền vững, bao gồm chủ rừng tự làm hoặc do đơn vị tư vấn thực hiện về: Tư cách pháp nhân, năng lực chuyên môn kỹ thuật và tài chính…

6.    Quy định cấp có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt phương án cho từng loại hình chủ rừng; cấp thẩm quyền chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát thực hiện phương án cho từng loại hình chủ rừng và nội dung kiểm tra giám sát, các chỉ số và tần số giám sát, chế độ báo cáo.

7.    Đối với HCVF hoặc khu rừng có tầm quan trọng về sinh thái, cần quy định rõ: Tuân theo hướng dẫn/tiêu chuẩn nào? Nội dung chiến lược và kế hoạch bảo tồn HCVF; quy mô (Diện tích), lập bản đồ đa dạng sinh học của khu HCVF…

8.    Trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước: Cần đưa các nội dung cụ thể về trách nhiệm trong hỗ trợ chính sách, giám sát và kiểm tra đánh giá các hoạt động quản lý cũng như tần suất và chỉ số phải kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện quản lý rừng bền vững.

9.    Quy định rõ trách nhiệm của tổ chức đánh giá và cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững trong và ngoài nước phù hợp với pháp luật của Việt Nam và quy định của Quốc tế. Quy định các tiêu chí đánh giá năng lực và kinh nghiệm của các tổ chức tư vấn trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng.

Những khuyến nghị khác:

1.    Cần xác định có tính pháp quy “Quản lý rừng bền vững là bắt buộc, còn chứng chỉ rừng là tự nguyện” (Theo điều 28 của Luật Lâm nghiệp 2017).

2.    Cần hoàn thiện Phụ lục gồm 2 bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững Quốc gia theo PEFC và FSC. Bộ tiêu chuẩn nên áp dụng cho cả 2 loại rừng trồng và rừng tự nhiên với các quy định rõ ràng; những chỉ số áp dụng và không áp dụng cho chủ rừng quy mô nhỏ (SLIMF).

3.    Hồ sơ thẩm định cần có đầy đủ các loại tài liệu, các loại bản đồ kèm theo phương án; các báo cáo chuyên đề: Điều tra tài nguyên rừng, điều tra đánh giá tác động môi trường và xã hội, điều tra đa dạng sinh học và khu rừng giá trị bảo tồn cao (HCVF) nếu có, hệ thống số liệu và bản đồ hành lang vùng đệm ven hồ, suối...

4.    Quy định rõ chủ rừng phải tổ chức tham vấn các bên liên quan ở các cấp bao gồm cả hình thức và nội dung cần tham vấn theo mẫu thống nhất.

5.    Bổ sung hướng dẫn các chủ rừng hệ thống giám sát tăng trưởng rừng và xói mòn đất.

KẾT LUẬN

Việt Nam cũng như các nước có nền kinh tế đang trong quá trình chuyến đổi, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng rất lớn. Vì vậy, rất cần có những chính sách phù hợp nhằm đạt được mục tiêu của Chiến lược phát triển ngành Lâm nghiệp Việt Nam về quản lý rừng bền vững. Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT được sửa đổi bổ sung sẽ tiếp cận sát hơn các yêu cầu của Quốc tế và thúc đẩy tiến trình quản lý rừng bền vững, đặc biệt sẽ mở rộng diện tích có chứng chỉ rừng ở Việt Nam, khi 2 bộ tiêu chuẩn Quốc gia được phê duyệt sẽ giúp các chủ rừng có điều kiện lựa chọn tiêu chuẩn phù hợp với thực trạng quản lý của họ. Đồng thời, tiến trình quản lý rừng bền vững và hệ thống chứng chỉ rừng của Việt Nam sẽ được xác lập bền vững.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Bộ NN-PTNT, 2007. Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020.

2.    Đào Công Khanh và Dương Thị Liên – Báo cáo rà soát chính sách quản lý rừng bền vững của Việt Nam, Hà Nội 2017.

3.    Quốc Hội khóa 14,  ngày 15 tháng 11 năm 2017, Luật Lâm nghiệp 2017 số 16/2017/QH14.

4.    Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT ngày 03 tháng 11 năm 2014 của Bộ trưởng bộ NN & PTNT về “Hướng dẫn phương án QLRBV”.

Vụ Phát triển sản xuất Lâm nghiệp - RECOFTC

Đọc tiếp...

Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam: Từ Chính sách đến thực tiễn


Một trong những mục tiêu của Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 là “Đến năm 2020, phấn đấu ít nhất có được 30% diện tích rừng sản xuất có chứng chỉ rừng (là diện tích được đánh giá và cấp giấy xác nhận đạt tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững)”. Bằng sự nỗ lực của các chủ rừng và ngành lâm nghiệp cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ các nước và các tổ chức Quốc tế, đến tháng 12 năm 2017 Việt Nam đã có hơn 231 nghìn ha rừng có chứng chỉ FM/CoC hệ thống FSC[1]. Trong gần 20 năm qua Chính phủ Việt Nam và cơ quan tham mưu là Bộ NN & PTNT đã ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ và thúc đẩy công cuộc bảo vệ, phát triển và quản lý tài nguyên rừng bền vững. Các chính sách của Chính phủ đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của QLRBV, đưa ra những quy định nhằm thúc đẩy hoạt động Quản lý rừng bền vững hướng đến chứng chỉ rừng.


Trong khuôn khổ của bài viết này sẽ tập trung vào đánh giá việc thực hiện và tác động cũng như tồn tại của các chính sách đã, đang và sẽ liên quan trực tiếp đến tiến trình QLRBV và CCR của Việt Nam trong thời gian qua bao gồm: 1) Hướng dẫn về Phương án quản lý rừng bền vững (Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT, ngày 03/11/2014 của Bộ NN & PTNT); 2) Kế hoạch hành động về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng giai đoạn 2015-2020 (Quyết định 2810/QĐ-BNN-TCLN, ngày 16/07/2015 của Bộ NN & PTNT); 3) Đề án thực hiện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng giai đoạn 2016-2020 (Quyết định 83/QĐ-BNN-TCLN ngày 12/01/2016); và 4)  Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 – 2020 (Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017).

 1.    Bối cảnh và sự cần thiết ban hành các chính sách